shopee

Cái ghế trống - Chương 14

Cái ghế trống - Chương 14

Cái ghế trống
Chương 14

Ngày đăng
Tổng cộng 46 hồi
Đánh giá 8.3/10 với 30354 lượt xem

Lincoln Rhyme, phớt lờ con nhặng xanh bóng bay vù vù gần đó, chăm chú nhìn bảng chứng cứ tiếp theo vừa lập xong.
TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - MỎ ĐÁ
Túi vải gai cũ - Không đọc được tên in bên trên
Ngô - Thức ăn chăn nuôi?
Muội than trên túi
Nước đóng chai nhãn hiệu Deer Park
Bích quy phó mát nhãn hiệu Planters
Những chứng cứ khác thường nhất là những chứng cứ hữu ích nhất. Đối với Rhyme, không khi nào hạnh phúc hơn lúc anh tìm thấy cái gì đó hoàn toàn chưa xác định được. Vì điều đó có nghĩa rằng nếu anh có thể xác định được nó thì anh giới hạn được phạm vi truy tìm.
Nhưng những thứ này - những chứng cứ mà Sachs tìm thấy tại mỏ đá - thuộc loại phổ biến. Nếu đọc được các chữ in bên trên túi thì anh có lẽ sẽ chỉ phải truy tìm đến một nguồn duy nhất thôi. Tuy nhiên lại không đọc được. Nếu vỏ chai nước và giấy gói bích quy có nhãn giá thì họ có lẽ sẽ lần ra cửa hiệu nào đã bán chúng, sẽ lần ra nhân viên bán hàng, người này sẽ hình dung lại Garrett và biết đâu sẽ cung cấp được những thông tin liên quan tới nơi gã lẩn trốn. Tuy nhiên lại không có nhãn giá gì hết. Và gỗ bị cháy sém? Chi tiết ấy dẫn tới tất cả các bữa tiệc thịt nướng ngoài trời ở quận Paquenoke. Thật vô ích.
Những hạt ngô có thể hữu ích - Jim Bell và Steve Farr ngay bây giờ đang gọi điện cho các cửa hiệu bán thức ăn chăn nuôi - nhưng Rhyme ngờ rằng các nhân viên bán hàng sẽ chẳng nói gì hơn là “Vâng. Chúng tôi bán ngô. Đựng trong các túi vải gai cũ. Giống như mọi người vẫn làm.”
Chết tiệt! Anh hoàn toàn không biết gì về nơi này. Anh cần hàng tuần, thậm chí hàng tháng mới có cảm nhận về nơi này được.
Nhưng, tất nhiên, họ không có hàng tuần hay hàng tháng.
Ánh mắt anh đảo từ bảng này sang bảng kia, nhanh chẳng kém con nhặng.
TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG TRỰC TIẾP - BẾN TÀU KÊNH NƯỚC ĐEN
Khăn giấy Kleenex thấm máu
Bụi đá vôi
Nitrate
Phốt phát
Ammonia
Chất tẩy
Camphene
Chẳng suy luận được gì thêm từ bảng này.
Quay lại với những cuốn sách về côn trùng, Rhyme quyết định.
“Ben, cuốn sách đằng kia - Thế giới thu nhỏ. Tôi muốn xem nó.”
“Vâng, thưa ông.” Anh chàng trẻ tuổi nói lơ đãng, mắt nhìn bảng chứng cứ. Anh ta cầm cuốn sách lên, giơ ra cho Rhyme.
Mất một lát, cuốn sách lơ lửng trong khoảng không ngang ngực nhà hình sự học. Rhyme giễu cợt nhìn Ben, anh chàng liếc nhìn lại và trong tích tắc, giật nảy mình, lùi về phía sau, nhận ra rằng anh ta đang đưa một vật cho người sẽ cần đến sự can thiệp thần kỳ mới có thể đón lấy nó được.
“Ôi, trời ơi, ông Rhyme... nghe này”, Ben buột miệng, khuôn mặt tròn đỏ lựng lên. “Tôi vô cùng xin lỗi. Tôi đang không chú ý, thưa ông. Trời ơi, thật ngu ngốc. Tôi thực sự...”
“Ben”, Rhyme nói giọng đều đều. “Câm ngay cái mồm lại.”
Anh chàng khổng lờ sững sờ chớp mắt, nuốt nước bọt. Cuốn sách, bé tí trong bàn tay đồ sộ của anh ta, hạ xuống. “Tôi chẳng may, thưa ông. Tôi đã bảo tôi đang...”
“Câm mồm.”
Ben không nói nữa. Anh ta ngậm miệng lại, nhìn xung quanh căn phòng tìm kiếm sự cứu vớt nhưng xem ra sẽ chẳng có sự cứu vớt nào. Thom đứng dựa vào tường, im lặng, hai tay khoanh trước ngực, chẳng định làm một người lính gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.
Rhyme tiếp tục hạ giọng lầm bầm: “Cậu đang cư xử quá rón rén và tôi chán ngấy cái kiểu này rồi. Xin thôi trò khúm núm chết tiệt ấy của cậu ngay đi.”
“Khúm núm? Tôi chỉ đang cố gắng không làm mất lòng một người mà... Ý tôi là...”
“Không, không đúng. Cậu đang nghĩ xem có cách quái nào để mau mau thoát khỏi đây mà không phải nhìn tôi nhiều hơn mức cần thiết, không phải làm căng thẳng cái hệ thần kinh nhỏ bé mong manh của chính bản thân cậu.”
Đôi vai đồ sộ cứng lại. “Chà, bây giờ, thưa ông, tôi nghĩ như thế là không hoàn toàn công bằng.”
“Mẹ kiếp. Đã đến lúc tôi tháo găng tay ra...” Rhyme cười hằn học. “Cậu thấy phép ẩn dụ đó thế nào? Tôi, tháo găng tay ra? Một việc mà lúc này tôi sẽ không thể thực hiện nhanh chóng cho lắm, phải không?... Để bông lơn về những kẻ què quặt thì câu ấy thế nào hả?”
Ben tha thiết muốn chạy trốn - muốn biến mất qua cái khung cửa kia - nhưng đôi chân sừng sững của anh ta bị chôn chặt xuống, giống như hai thân cây sồi.
“Tôi có bị bệnh truyền nhiễm đâu”, Rhyme quát. “Cậu nghĩ nó sẽ lây lan à? Nó không lây lan theo cách đó đâu. Cậu bước qua bước lại, cậu hít thở ở đây, và rồi người ta sẽ cho cậu lên một chiếc xe lăn mà đưa đi. Khỉ gió, cậu thậm chí e sợ rằng nếu nhìn tôi thì rốt cuộc cậu cũng giống như tôi vậy.”
“Không đúng!”
“Không đúng à? Tôi nghĩ là đúng đấy. Làm thế nào mà tôi lại khiến cậu sợ hãi đến thế?”
“Không!”, Ben lắp bắp. “Không hề!”
Rhyme nổi cơn thịnh nộ. “Ồ, có đấy, tôi có khiến cậu sợ hãi đấy. Cậu sợ hãi phải ở trong cùng một căn phòng với tôi. Cậu là thằng hèn nhát khốn kiếp.”
Anh chàng to lớn vươn người ra phía trưóc, nước bọt xì qua môi, quai hàm giật giật quát trả: “Ờ, đ.mẹ, Rhyme!”. Trong khoảnh khắc, anh ta tức giận đến mức không nói được, rồi tiếp tục. “Tôi tới đây vì dì tôi nhờ. Tất cả các kế hoạch của tôi đều rối loạn và tôi đếch nhận được một xu! Tôi nghe thấy ông chỉ huy những người xung quanh cứ như ông chúa lắm ấy. Tôi muốn nói, tôi đếch biết ông chui ra từ chỗ quái quỷ nào, thưa ông…” Giọng anh ta nhỏ dần và anh ta nheo mắt nhìn Rhyme đang cười ha hả.
“Gì thế?”, Ben quát. “Ông đang cười cái quái quỷ gì?”
“Thấy có dễ dàng không nào?”, Rhyme hỏi, bây giờ chỉ còn tủm tỉm cười. Thom cũng đang cố gắng kìm một nụ cười mỉm.
Thở mạnh và đứng thẳng người lên, Ben chùi miệng. Cảnh giác, tức tối. Anh ta lắc đầu. “Ông muốn nói gì hả? Cái gì dễ dàng?”
“Nhìn thẳng vào tôi và bảo tôi rằng tôi là đồ ngu ngốc.” Rhyme tiếp tục, giọng bình thản: “Ben, tôi hoàn toàn giống bất kỳ ai. Tôi không thích khi người ta cư xử với tôi y như thể với một con búp bê sứ. Và tôi biết họ chẳng bao giờ buồn bận tâm rằng chính họ sẽ khiến tôi phải rạn vỡ.”
“Ông đã lừa tôi. Ông đã nói những điều đó chỉ để chọc tức tôi.”
“Xin hãy nói là: chỉ để cậu hiểu tôi.” Rhyme không chắc chắc rằng có lúc nào Ben trở thành một Henry Davett được - một người chỉ quan tâm đến cái cốt lõi, cái sức mạnh tinh thần, của người ta và bỏ qua cái vỏ bề ngoài. Nhưng ít nhất thì Rhyme cũng đã đẩy cho nhà động vật học đi được vài bước trên con đường khai sáng đầu óc.
“Tôi nên bước ra qua cánh cửa kia và đi hẳn luôn.”
“Nhiều người sẽ hành động như vậy, Ben. Nhưng tôi cần cậu. Cậu phù hợp với công việc, có khiếu khám nghiệm. Nào, tiếp tục nào. Chúng ta đã xua đi phần nào nỗi căng thẳng, e ngại. Hãy quay lại với công việc.”
Ben bắt đầu đặt cuốn Thế giới thu nhỏ lên thiết bị lật trang - Vừa làm anh ta vừa liếc nhìn Rhyme, hỏi: “Thế thực sự có nhiều người vẫn nhìn thẳng vào ông và gọi ông là đồ con hoang à?”
Rhyme, đăm đăm nhìn bìa của cuốn sách, để Thom trả lời hộ: “Ồ, chắc chắn rồi. Tất nhiên chỉ sau khi họ hiểu anh ấy.”
Lydia vẫn chỉ cách cối xay chừng một trăm feet.
Cô di chuyển nhanh hết mức có thể về phía lối mòn sẽ đưa cô tới với tự do, nhưng mắt cá chân cô đau nhức nhối và làm chậm bước cô rõ rệt. Vả lại, cô cũng đành di chuyển từ từ - việc len lỏi qua các bụi rậm một cách tuyệt đối im lặng đòi hỏi người ta sử dụng đến đôi bàn tay. Nhưng, giống như những nạn nhân của chứng tổn thương não mà cô từng chăm sóc tại bệnh viện, cô không giữ cho mình được hoàn toàn thăng bằng và chỉ có thể loạng choạng bước từ chỗ trống này sang chỗ trống khác, gây nên tiếng động nhiều hơn ý muốn.
Lydia vòng ra xa đằng trước cối xay. Ngừng lại. Không thấy bóng dáng Garrett. Tịnh không một âm thanh trừ tiếng nước của con suối đổi dòng đổ vào cái vũng đáng nguyền rủa.
Thêm năm feet rồi mười feet.
Nào, hỡi thiên thần hộ mệnh, Lydia tự nhủ thầm. Hãy ở lại với con thêm một chút nữa. Hãy giúp đỡ con vượt qua chỗ này. Xin Người... Chỉ vài phút thôi và chúng ta sẽ trở về nhà, tự do.
Ôi, trời ơi, đau quá. Lydia không biết liệu có phải gãy xương không. Mắt cá chân cô sưng vù, và cô biết rằng, nếu đúng là bị gãy xương, cứ đi mà không có gì chống đỡ như thế này có thể khiến tình trạng trầm trọng hơn gấp mười lần. Da chỗ đó cũng thâm tím lại - dấu hiệu của sự vỡ mạch. Có thể xảy ra nhiễm độc máu. Cô nghĩ đến nguy cơ hoại tử. Phẫu thuật cắt bỏ chân. Nếu điều này xảy ra, bạn trai cô sẽ nói gì? Cô đồ là anh ấy sẽ chia tay cô. Có tốt đẹp nhất cũng chỉ là một mối quan hệ hờ hững - ít nhất là về phía anh ấy. Ngoài ra, từ kinh nghiệm làm việc với bệnh nhân ung bướu, cô còn biết rằng khi bắt đầu mất đi các bộ phận cơ thể có nghĩa là ta bắt đầu mất đi mọi người xung quanh.
Lydia ngừng lại, nghe ngóng, ngó nghiêng. Garrett đã chuồn rồi ư? Gã đã từ bỏ cô và đi ra Bờ Ngoài với Mary Beth?
Lydia tiếp tục di chuyển về phía lối mòn sẽ đưa cô quay lại mỏ đá. Một khi tìm thấy lối mòn đó, cô thậm chí sẽ phải di chuyển thận trọng hơn - đề phòng cái bẫy. Cô không nhớ chính xác Garrett đặt bẫy chỗ nào.
Thêm ba mươi feet nữa… và nó kia - lối mòn sẽ đưa Lydia trở về nhà.
Cô lại ngừng lại, lắng nghe. Không có gì. Cô để ý thấy một con rắn da thẫm màu, bình thản nằm sưởi nắng trên gốc cây tuyết tùng già. Tạm biệt, cô nhủ thầm với nó. Tao trở về nhà đây.
Lydia vừa dợm bước về phía trước.
Và thế là bàn tay Thằng Bọ đột ngột thò ra từ dưới lùm nguyệt quế lá sum suê, tóm lấy cổ chân lành lặn của cô. Mất thăng bằng, hai bàn tay không sử dụng được, Lydia chẳng thể làm gì khác ngoài việc vặn người sang bên, và bởi vậy đã ngã đập đôi mông chắc nịch xuống đất. Con rắn bị tiếng thét cửa cô đánh thức, lẩn đi đằng nào.
Garrett leo lên người Lydia, ghìm chặt cô xuống đất, giận dữ đỏ mặt. Gã hẳn đã nằm đây mười lăm phút. Im lặng, không nhúc nhích một inch cho tới lúc cô ở khoảng cách đủ gần. Y như một con nhện chờ đợi cú tiêu diệt mồi tiếp theo.
“Xin cậu”, Lydia lẩm bẩm, choáng váng đến không thở được và tràn ngập nỗi khiếp sợ rằng thiên thần hộ mệnh đã phản bội cô. “Đừng làm hại...”
“Im”, Garrett giận dữ thì thào, ngó nghiêng xung quanh “Mày làm tao quá sức chịu đựng rồi.” Gã thô bạo đẩy Lydia đứng dậy. Gã có thể nắm lấy cánh tay cô, lật người cô lại và kéo cô đứng dậy theo cách ấy. Nhưng không, gã ôm lấy cô từ đằng sau, hai bàn tay gã xòe trùm lên ngực cô, và gã nhấc cô đứng dậy. Cô cảm thấy cơ thể căng cứng của gã gớm ghiếc cọ vào lưng và mông cô. Cuối cùng, sau cái tưởng chừng như không bao giờ ngừng lại, gã buông cô ra nhưng những ngón tay xương xẩu vẫn tóm cánh tay cô và kéo cô đi theo về phía cối xay, chẳng buồn chú ý tới tiếng cô khóc nức nở. Gã chỉ dừng bước một lần, xem xét một đàn kiến dài vắt ngang qua lối mòn, khiêng những cái trứng bé tí. “Đừng có làm hại chúng”, gã lẩm bẩm. Và cẩn thận quan sát bàn chân cô để chắc chắn rằng cô không giẫm lên đàn kiến.
Với âm thanh mà Rhyme vẫn luôn luôn nghĩ nó giống như tiếng liếc dao của hàng thịt, thiết bị lật trang loạt soạt lật một trang nữa trong cuốn Thế giới thu nhỏ - cuốn sách, nếu đánh giá qua tình trạng nhàu nhĩ của nó, là cuốn sách được Garrett Hanlon ưa thích.
Côn trùng có khả năng bảo toàn sự sống đáng kinh ngạc. Loài bướm bu-lô[28] chẳng hạn, bình thường chúng màu trắng, nhưng ở các khu vực xung quanh thành phố công nghiệp Manchester, Anh, chúng chuyển thành màu đen để lẫn với màu bồ hóng bám trên những thân cây trắng và xem ra đỡ bị kẻ thù phát hiện.
Rhyme lật qua các trang khác, ngón đeo nhẫn bên trái còn trung thành với anh chạm vào bảng điều khiển điện tử, soạt, soạt, từng trang sách được lật trên khung thép. Anh đọc các đoạn Garrett đánh dấu. Đoạn về cái bẫy của loài kiến sư tử đã cứu đội tìm kiếm khỏi rơi xuống một trong những cái bẫy do gã trai đặt, và Rhyme đang cố gắng rút ra thêm kết luận từ cuốn sách này. Như chuyên gia nghiên cứu tâm lý cá, Ben Kerr nói với anh, hành vi của động vật thông thường là khuôn mẫu tốt cho con người bắt chước - đặc biệt đối với việc bảo toàn sự sống.
Bọ ngựa cọ cánh vào bụng làm phát ra âm thanh kỳ dị, khiến kẻ săn đuổi chúng mất phương hướng. Nhân tiện, cũng xin lưu ý rằng bọ ngựa sẽ ăn thịt bất cứ sinh vật nào nhỏ hơn, kể cả chim và thú...
Có giả thuyết cho rằng người cổ đại đã nảy sinh ý tưởng về cái bánh xe khi quan sát loài bọ hung...
Một nhà tự nhiên học tên là Réaumer ở thế kỷ XVIII quan sát thấy ong bắp cày làm những chiếc tổ giấy bằng cách trộn sợi gỗ với nước bọt. Điều ấy khiến ông hình thành ý tưởng làm giấy từ bột gỗ chứ không phải từ vải, như các nhà sản xuất giấy vốn vẫn thực hiện cho tới bấy giờ...
Nhưng chi tiết nào giữa những chi tiết này sẽ giúp điều tra vụ án? Liệu có cái gì có thể hỗ trợ Rhyme tìm thấy hai con người đang chạy trốn đâu đó trên cả trăm dặm vuông rừng và đầm lầy?
Côn trùng triệt để lợi dụng khứu giác. Đối với chúng, khứu giác là một giác quan đa chiều. Chúng thực sự “cảm thấy” được các mùi và sử dụng trong nhiều việc. Trong giáo dục, trong tình báo, trong thông tin liên lạc. Khi một con kiến phát hiện ra thức ăn, nó trở về tổ và để lại một vệt mùi bằng cách thi thoảng chạm bụng xuống mặt đất. Khi những con kiến khác gặp vệt mùi này, chúng theo đó đi tới chỗ thức ăn. Chúng biết phải đi hướng nào vì mùi để lại “có hình dáng”, đầu hẹp của mùi chỉ về phía thức ăn tựa như mũi tên định hướng. Mùi cũng là lời cảnh báo về kẻ thù đang rất gần. Vì một con côn trùng nhận ra được một phân tử mùi từ cách xa hàng dặm, sự xuất hiện của kẻ thù hiếm khi khiến côn trùng bất ngờ...
Cảnh sát trưởng Jim Bell vội vã bước vào phòng. Gương mặt lo lắng của anh ta nở một nụ cười. “Vừa nghe được từ một y tá tại bệnh viện. Tin tức về Ed. Xem chừng ông ấy đang thoát khỏi cơn hôn mê và đã nói gì đó. Vài phút nữa bác sĩ sẽ đến. Tôi hy vọng chúng ta sẽ biết chữ “ô liu” ông ấy nói mang ý nghĩa như thế nào và phải chăng ông ấy đã trông thấy cái gì đó cụ thể trên tấm bản đồ trong chòi săn.”
Mặc dù vốn vẫn hoài nghi các lời chứng, Rhyme đi tới kết luận rằng giờ đây anh lại cảm thấy mừng rỡ vì có được một nhân chứng. Sự bất lực, sự mất phương hướng của cá-mắc-cạn, đang đè xuống anh nặng trĩu.
Bell chậm rãi đi đi lại lại trong la-bô, ngóng ra cửa mỗi khi nghe tiếng bước chân đến gần.
Lincoln Rhyme lại ngả người, đặt đầu vào cái tựa đầu của xe lăn. Ánh mắt dõi lên bảng chứng cứ, dõi lên tấm bản đồ, rồi trở về với cuốn sách. Và suốt thời gian đó, con nhặng xanh bé bằng hạt đỗ cứ bay vèo vèo trong căn phòng, với nỗi tuyệt vọng không rõ rệt xem chừng cũng giống hệt nỗi tuyệt vọng chính anh đang mang.
Một con vật phóng vụt qua lối mòn rồi biến mất.
“Con gì thế?”, Sachs hất đầu chỉ con vật, hỏi. Đối với cô, nó có vẻ như một con vật lai giữa chó và giống mèo hoang lớn.
“Cáo xám”, Jesse nói. “Tôi không hay trông thấy chúng lắm. Nhưng tôi cũng không hay đi dạo ở phía bắc sông Paquo.”
Họ di chuyển chậm chạp, cố gắng bám theo các dấu vết mờ nhạt của Garrett. Và họ luôn luôn phải để mắt canh chừng những cái bẫy sập, hay nguy cơ bị phục kích từ cây cối, bụi rậm xung quanh.
Một lần nữa, linh cảm vẫn theo riết Sachs từ ban sáng, từ lúc họ lái xe đi ngang qua đám tang của đứa trẻ nọ lại xuất hiện. Họ đã bỏ lại rừng thông đằng sau và đang ở trong một loại rừng khác. Cây cối giống như trong rừng nhiệt đới vậy. Khi cô hỏi, Lucy bảo đây là những cây sơn thù du, những cây bụt mọc lưu niên, tuyết tùng. Chúng chằng chịt vào với nhau bởi các lớp rêu và dây leo.
Các lớp rêu và dây leo này hấp thụ âm thanh giống như sương mù dày đặc và khiến cảm giác sợ hãi phải ở trong một không gian đóng kín xâm chiếm cô. Nấm, nấm mốc và những đầm lầy nổi váng ở khắp xung quanh họ. Không khí đầy mùi mục nát.
Sachs nhìn xuống mặt đất mòn dấu chân. Cô hỏi Jesse: “Chúng ta cách thị trấn hàng dặm rồi. Ai tạo ra những lối mòn này?”
Jesse nhún vai: “Phần lớn là bọn nợ xấu.”
“Nghĩa là thế nào?”, Sachs hỏi, nhớ ra rằng Rich Culbeau cũng đã sử dụng phương ngữ.
“Chị biết đấy, những người không trả được nợ. Về cơ bản nó chỉ có nghĩa là đám cặn bã. Đám nấu rượu lậu, oắt con, dân đầm lầy, đám điều chế PCP[29].”
Ned Spoto hớp một ngụm nước và nói: “Thi thoảng lại có những cú điện thoại gọi cho chúng tôi: xảy ra bắn nhau, ai đó la hét, những lời kêu gọi giúp đỡ, những ánh đèn đánh tín hiệu một cách bí hiểm. Đại loại vậy. Cơ mà hễ chúng tôi tới nơi lại chẳng có gì... Chẳng có một người nào, chẳng đối tượng, chẳng nhân chứng. Đôi khi chúng tôi tìm thấy một vệt máu, nhưng nó không dẫn đến đâu cả. Chúng tôi đi - chúng tôi bắt buộc phải đi - nhưng không ai trong đồn chúng tôi từng đến những khu vực này một mình.”
Jesse nói: “Ở đây người ta cảm thấy khác biệt. Người ta cảm thấy - điều này nghe kỳ cục - nhưng người ta cảm thấy cuộc sống khác biệt, rẻ rúng hơn. Tôi thà đi bắt mấy thằng lỏi có vũ khí đang sắp sửa xài ma túy tại một siêu thị mi ni còn hơn bị gọi tới đây. Ít nhất thì đằng kia vẫn có các luật lệ. Người ta biết điều gì sẽ diễn ra. Chứ ở đây…”, Anh ta nhún vai.
Lucy gật đầu. “Đúng đấy. Và luật lệ bình thường không áp dụng đối với bất cứ ai ở phía bắc sông Paquo. Cả chúng tôi lẫn bọn họ. Anh có thể thấy chính anh nhả đạn trước khi anh đọc cho người ta biết về các quyền của người ta và điều đó hoàn toàn không vấn đề gì cả. Khó có thể giải thích.”
Sachs không ưa kiểu nói chuyện gây hồi hộp này. Nếu bản thân ba người cảnh sát kia không nghiêm trang và căng thẳng đến thế thì cô sẽ nghĩ họ đang diễn trò để hù dọa một cô gái thành phố.
Cuối cùng, họ dừng lại nơi lối mòn chia làm ba ngả. Họ đi vào mỗi ngả chừng năm mươi feet, nhưng không phát hiện được dấu vết nào cho thấy ngả mà Garrett và Lydia đã lựa chọn. Họ quay lại chỗ ngã tư.
Trong tâm trí Sachs âm vang lời Rhyme. Hãy thận trọng, Sachs, nhưng hãy di chuyển khẩn trương lên. Anh nghĩ chúng ta chẳng còn nhiều thời gian đâu.
Di chuyển khẩn trương…
Nhưng không có một gợi ý nào cho họ thấy là họ phải đi đến đâu và khi Sachs nhìn xuống những ngã rẽ rậm rạp, dường như không ai, thậm chí Rhyme, có thể đoán định được nơi con mồi của họ đã đi.
Rồi điện thoại di động của cô rung lên và cả Lucy lẫn Jesse Corn cùng hướng ánh mắt vào cô vẻ chờ đợi, hy vọng, giống y như cô, rằng Rhyme đã có gợi ý mới về hướng đi cho họ.
Sachs nhận cuộc gọi, lắng nghe nhà hình sự học, rồi gật đầu, cúp máy. Cô hít vào một hơi và nhìn ba người đồng nghiệp.
“Gì thế?”, Jesse Corn hỏi.
“Lincoln và Jim vừa được bệnh viện thông báo tin tức về Ed Schaeffer. Dường như ông ấy chỉ tỉnh dậy đủ để nói: “Tôi yêu các con tôi”, rồi qua đời... Mọi người nghĩ lúc trước ông ấy đã nói cái gì đó về phố “Olive”, nhưng hóa ra chỉ là ông ấy cố gắng nói “I love[30]“. Ông ấy nói có thế thôi. Tôi rất lấy làm tiếc.”
“Ôi, lạy Chúa”, Ned lẩm bẩm.
Lucy cúi đầu và Jesse quàng cánh tay ôm lây vai cô. “Chúng ta làm gì đây?”, anh ta hỏi.
Lucy ngẩng lên nhìn. Sachs có thể thấy những giọt lệ trong mắt cô. “Chúng ta sẽ tóm cổ thằng nhãi ấy, đó là việc chúng ta sẽ làm”, cô nói với quyết tâm sắt đá. “Chúng ta sẽ lựa chọn ngã rẽ hợp lý nhất và đi cho tới lúc tìm thấy hắn. Và chúng ta sẽ đi khẩn trương. Cô không phản đối chứ?”, cô hỏi Sachs, lúc này hoàn toàn sẵn sàng nhường quyền chỉ huy cho người nữ đồng nghiệp.
“Chắc chắn không rồi.”
Chú Thích:

[28] Cây bu-lô: một loài cây phương bắc, thân nhẵn màu trắng.
[29] PCP (viết tắt của phenylcyclohexylpiperidine): tên một loại ma túy.
[30] “Olive và I love”, có nghĩa là ô liu” và “tôi yêu”, khi phát âm nghe gần giống nhau

Chương trước Chương sau