Nhân chứng câm - Chương 20

Nhân chứng câm - Chương 20

Cuộc thăm viếng Littlegreen lần thứ hai

Ngày đăng
Tổng cộng 29 hồi
Đánh giá 9/10 với 15434 lượt xem

Trong cuộc hành trình ngắn bằng ô-tô từ Harchester đến Market Basing, Hercule Poirot và tôi chúng tôi tranh luận về tình hình.
- Này Poirot, gợi ý của anh đưa ra về vấn đề di chúc có dựa trên sự kiện có thật nào mà anh biết không?
- Không, anh ơi, tôi đã nói là tiểu thư Arundell có lẽ cho rằng mình đã xé tờ di chúc này vì lợi ích của công việc. Phải cố tạo ra một lý lẽ nào đó chứ! Ngài Purvis là một kẻ tinh quái. Nếu tôi không cho sổ ra đôi điều bóng gió nào đó thuộc kiểu này, thì ông ta sẽ tự nghĩ xem tôi đến làm gì trong chuyện này.
- Anh có biết anh làm tôi nghĩ đến điều gì không Poirot?
- Không, anh bạn ạ.
- Nghĩ đến một nghệ sĩ tung hứng mà những quả bóng màu sắc khác nhau đều ở cả trên không trong cùng một lúc.
- Những quả bóng màu sắc khác nhau là những điều bịa đặt mà tôi đã kể ra hử?
- Cũng thế cả thôi.
- Và anh rình mọi lý lẽ vớ vẩn của những điều dối trá ấy sụp đổ rầm rầm phải không?
- Anh không thể tiếp tục nói dối mà không bi trừng phạt được đâu! - Tôi lưu ý.
- Đúng đấy. Một ngày tới đây, tôi sẽ lần lượt bắt lại những quả bóng ấy, tôi sẽ chào từ biệt công chúng rồi tôi sẽ rời khỏi hí trường.
- Trong tiếng vỗ tay hoan hô như sấm rền.
Poirot nhìn tôi ngờ vực.
- Có lẽ là đúng.
- Purvis đã chẳng cho chúng ta biết điều gì quan trọng cả. - Tôi nhận xét.
- Không, những lời nói của ông ta đã xác nhận thành thực những dữ kiện chung mà chúng ta có trong vụ án.
- Và xác minh lời kể lại của bà Lawson. Bà tùy nữ hoàn toàn không biết về tờ di chúc trước khi bà chủ chết.
- Tôi không thấy rằng những lời của ông Purvis xác nhận bất cứ gì về điều khẳng định ấy của bà Lawson cả.
- Này Poirot, Purvis đã khuyên tiểu thư Arundell đừng nói với bà tùy nữ của mình và tiểu thư Arundell đã cam đoan rằng bà ấy không hề có ý định cho người ấy biết về di chúc của mình.
- Phải, tất cả điều đó anh cho là đều rõ ràng cả. Nhưng đừng quên rằng còn có những lỗ khóa và những chìa khóa để mở các ngăn kéo nữa đấy.
- Phải chăng anh nghi ngờ bà Lawson nghe trộm ở cửa và lục lọi các tủ? - Tôi công phẫn hỏi lại.
Poirot cười.
- Bà Lawson không thuộc về trường phái cổ kính đâu, anh bạn. Chúng ta biết rằng bà ta đã kinh ngạc về những vấn đề không hề dành cho lỗ tai bà. Tôi nói về cuộc nói chuyện giữa bà cô và anh cháu trong đó Charles nói đến cái chết bất đắc kỳ tử để đe dọa các bà con già giàu có và keo kiệt.
Tôi phải thừa nhận điều đó.
- Bà ta cũng có thể nghe thấy câu chuyện giữa ông Purvis và tiểu thư Arundell, càng nghe rõ hơn nữa nếu có một tiếng nói khá to. Với những điều nghe trộm ở ngoài cửa và lục lọi trộm ở các ngăn kéo, - Poirot nói tiếp - chắc anh không nghi ngờ số người làm mấy việc khiếm nhã vặt vãnh này. Những người rụt rè và sợ sệt như bà Lawson lại dễ nhiễm những thói xấu không dám thú nhận này thường mang lại cho họ một cách giải trí thú vị trong tâm trạng quạnh hiu của họ.
- Lẽ nào thế, Poirot! - Tôi phản đối.
Anh lắc đầu quầy quậy.
- Có đấy, anh bạn ạ, có đấy!
Đến Market Basing, chúng tỏi thuê hai phòng ở khách sạn rồi chúng tôi đi đến Littlegreen. Đáp lại tiếng chuông của chúng tôi, Bob giận dữ sủa vang. Nó chạy ngang tiền sảnh và xông ra cổng. Một giọng nói dịu dàng lẫn trong tiếng chó sủa.
- Nào, Bob ngoan nào! Đi vào đây!
Bob bị kéo bởi chiếc vòng xích cổ và bị nhốt một cách bất đắc dĩ vào buồng khách nhỏ.
Ellen kéo chốt và mở cửa.
- Ô! Hóa ra các ông! - Bà kêu lên vui vẻ - Xin mời các ông quá bộ vào nhà.
Chúng tôi vào tiền sảnh. Từ phía dưới cửa ở bên trái vẳng đến tai chúng tôi những tiếng xịt mũi lẫn những tiếng càu nhàu. Bob đang cố gắng nhận dạng chúng tôi.
- Bà hãy thả nó ra. - Tôi nhận xét.
- Tôi không muốn vậy, thưa ông. Nó không dữ đâu chẳng qua nó làm ra vẻ inh ỏi quá đáng để dọa người ta thôi. Đúng là một con chó giữ nhà tuyệt vời.
Bà mở cửa phòng khách nhỏ và Bob lao ra ngoài với vận tốc của một viên đạn bắn ra khỏi nòng.
- Tuyệt! Đấy còn gì tốt hơn thế! - Poirot nói và theo bà vào trong phòng khách nhỏ rồi đến ngồi vào một chiếc ghế bành.
Tôi sắp theo kịp anh thì Bob bỗng từ xó xỉnh nào xuất hiện với quả bóng trong mõm. Nó xông lên cầu thang và leo lên bậc cao, quả bóng ôm giữa hai chân trước. Nó ngoe nguẩy từ từ cái đuôi.
“Đến đây, nó bảo tôi, đến đây! Chúng ta sẽ chơi một hiệp nào”.
Trong một lúc tôi quên mất vai trò thám tử của tôi và tôi chơi với con chó. Sau mấy phút, tôi mới trịnh trọng đi vào phòng khách nhỏ.
Poirot và Ellen đang mê mải nói chuyện về đề tài bệnh tật và thuốc men.
- Vâng, thưa ông, tiểu thư Arundell uống những viên thuốc tròn màu trắng. Hai hoặc ba viên sau mỗi bữa ăn theo đơn của bác sĩ Grainger. Ồ, bà thực hiện rất nghiêm túc. Cũng có một loại thuốc khác nữa. Bà Lawson hoàn toàn tin tưởng loại ấy...những viên nang... những viên nang của bác sĩ Loughbarrow, thuốc bổ gan. Người ta thấy quảng cáo thuốc đó dán khắp các tường.
- A! Bà ấy cũng dùng cả những viên nang ư?
- Vâng. Bà Lawson mang về cho bà. Và thấy thuốc này cũng có tác dụng tốt.
- Bác sĩ Grainger có biết chuyện đó không?
- Ồ! Ông ấy không cho việc đó là quan trọng. “Cứ dùng các viên ấy nếu bà tin là nó thích hợp với bà” ông nói với bà chủ.
- Bà còn dùng thuốc khác không?
- Không. Chồng của cô Bella, thấy thuốc nước ngoài một hôm mang về cho bà một loại thuốc nước. Bà chủ cảm ơn ông rất lịch sự, nhưng bà lại đổ nó đi. Tôi có thể chứng thực việc đó! Bà đã làm đúng bởi vì ai tin được các thầy thuốc ngoại quốc!
- Bella Tanios đã nhìn thấy bà dì của cô ấy đổ thuốc xuống lỗ cống phải không?
- Vâng đúng thế và người đàn bà tội nghiệp ấy rất buồn phiền. Điều đó làm tôi đau lòng, bởi vì chồng cô chắc hẳn đã được khích lệ bởi ý định tốt.
- Tất nhiên tất nhiên. Tôi cho rằng người ta đã vứt đi tất cả thuốc men sau cái chết của tiểu thư Arundell?
Câu hỏi ấy làm Ellen sửng sốt.
- Ồ vâng thưa ông. Cô y tá đã vứt đi một phần và bà Lawson đã vứt bỏ toàn bộ những gì còn lại trong tủ thuốc của phòng tắm.
- Ở đó có hộp các viên nang của bác sĩ Loughbarrow không?
- Không, thuốc ấy để trong tủ hộc tường của phòng ăn để người ta tìm thấy chúng trong tầm tay sau mỗi bữa ăn theo chỉ dẫn của thầy thuốc.
- Bà có thể cho tôi tên và địa chỉ của cô y tá đã săn sóc cho tiểu thư Arundell?
Ellen cung cấp ngay.
Poirot nói đến cuộc đến thăm bất ngờ của bác sĩ Tanios ngày Chủ nhật trước cái chết của tiểu thư Arundell.
- Phải, thưa ông - Ellen nói với anh - Cậu Charles và cô Theresa đã đi dạo. Chúng tôi không mong đợi bác sĩ Tanios. Bà chủ tôi đang nằm trên giường, bà đã ngạc nhiên khi tôi báo tin bác sĩ đến “Bác sĩ Tanios? Bà kêu lên. Có vợ Tanios đi theo anh ta không?”.
- Ông ta ở lại có lâu không?
- Không quá một giờ, thưa ông. Khi ông ấy đi ra ông có vẻ buồn lắm.
- Bà có ý kiến gì về mục đích cuộc thăm viếng này không?
- Quả thực không, thưa ông.
- Bà chắc là có thể, đã nghe được một cách ngẫu nhiên điều gì đó không?
Bà ta lập tức đỏ mặt lên.
- Không, thưa ông, tôi không nghe thấy gì cả! Tôi không bao giờ nghe ở ngoài cửa, nếu người khác tự cho phép làm điều đó!
- Ô! Bà đã hiểu lầm lời tôi nói - Poirot nói - Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng bà có thể vào phòng khách để dâng trà trong khi tiểu thư Arundell ở bên bác sĩ Tanios. Như vậy bất đắc dĩ bà đã nghe được cuộc nói chuyện giữa bà chủ và khách của người.
Ellen có vẻ nguôi nguôi.
- Xin ông tha lỗi, thưa ông. Tôi chưa hiểu, bác sĩ Tanios không dùng trà ạ.
Poirot nhìn người đối thoại với mình nháy mắt một cách láu lỉnh.
- Để biết bác sĩ Tanios đến đây làm gì, tốt hơn là tôi phải hỏi bà Lawson, phải không?
- Nếu bà ấy không thể nói cho ông biết thì không ai có khả năng nữa. - Ellen đáp lại.
- Nào - Poirot vừa nói vừa nhíu mày như thể cố ôn lại những ký ức của mình - Buồng của bà Lawson có ở cạnh buồng của tiểu thư Arundell không?
- Không, thưa ông. Buồng của bà Lawson ở bên phải trên cầu thang, ông có muốn tôi chỉ buồng đó cho ông không?
Poirot chấp nhận lời đề nghị này, khi leo lên cầu thang anh đi sát cạnh tường. Đến bậc cao, anh phát ra một tiếng kêu đồng thời cúi xuống để nhìn vào ống quần của mình.
- A! Tôi vừa mới bị móc vào quần. Này, có một cái đinh dài ở ván chân tường.
- Đúng thế, thưa ông. Có một cái đinh thò ra ngoài. Tôi cũng đã bị móc váy vào đó hai ba lần.
- Nó đã thò ra ngoài như thế đã lâu chưa?
- Từ chưa lâu, tôi nghĩ thế, thưa ông. Tôi đã nhận thấy nó khi bà chủ bị nằm liệt giường sau tai nạn. Tôi đã cố nhổ nó lên nhưng không được.
- Tôi nghĩ rằng người ta đã mắc vào đó một đoạn dây.
- Ông nói đúng, thưa ông. Tôi nhớ là đã trông thấy một mẩu dây nhỏ. Tôi không thấy cái đó có thể dùng để làm gì?
Tiếng nói của Ellen không biểu lộ một chút nghi ngờ nào. Đối với bà, đó là một trong các chi tiết nhỏ mọn không nên gán cho nó bất kỳ tầm quan trọng nào và không nên đòi hỏi một lời giải thích nào.
Poirot vào gian phòng ở trên cầu thang. Tôi đi theo anh. Trong gian phòng có kích thước trung bình này được chiếu sáng qua hai cửa sổ, ở trong một góc tối thấy một bàn trang điểm và giữa hai cửa sổ có một cái tủ có gương, bên phải cửa có giường; bên trái một bàn phấn đặt trên đá cẩm thạch.
Vẻ mơ màng, Poirot nhìn xung quanh mình một lúc lâu, rồi trở lại thềm nghỉ của cầu thang. Anh đi theo dọc hành lang, qua đằng trước hai buồng khác và đến thẳng đằng trước gian buồng ngủ lớn của tiểu thư Arundell.
- Cô y tá chiếm gian phòng nhỏ ở bên cạnh. - Ellen giải thích.
Poirot lắc đầu vẻ suy tư. Khi chúng tôi xuống cầu thang, anh hỏi xem chúng tôi có thể đi dạo quanh vườn được không.
- Ồ được chứ, xin cứ tự nhiên, thưa ông. Trời đẹp quá! - Ellen nói.
- Người làm vườn vẫn trông nom vườn ư?
- Angus? Vâng, Angus tiếp tục làm ở đó. Bà Lawson muốn giữ cho tất cả vẫn ở trong vòng trật tự.
- Tôi đồng ý với bà ấy - Poirot nói - Để cho một cơ ngơi bị hoang phế là cách xử sự không đẹp.
Chúng tôi đi dạo trong vườn, ở đây đang nở rộ các cây đậu lupin, cây tai thỏ và những đóa mỹ nhân lớn đỏ rực, trong khi các cây mẫu đơn mới hé nở những nụ to bự. Trong một túp lều nhỏ, chúng tôi nhận ra ông làm vườn già. Ông chào chúng tôi kính cẩn và Poirot bắt đầu nói chuyện với ông. Chúng tôi báo là đã gặp Charles trong cùng ngày, làm cho người hầu già bật mở miệng rồi ông trở nên ba hoa liến thoắng.
- A! Một anh chàng bông lơn thật sự, cái cậu Charles này! Tôi đã trông thấy cậu chạy đến đây, một nửa chiếc bánh kem quả lý chua trong tay trong khi bà nấu bếp kêu toáng lên đi tìm kẻ ăn vụng. Cậu ta quay lại nhà bếp, bộ dạng ngây thơ đến nỗi người ta cuối cùng phải buộc tội cho con mèo. Mặc dầu tôi chưa bao giờ thấy mèo ăn bánh kem lý chua cả! Ồ! Đúng là một kẻ không ra gì, cái cậu Charles ấy!
- Cậu ta đã ở đây hồi tháng Tư, phải không?
- Vàng, cậu đã qua hai kỳ cuối tuần ở đây đúng trước khi tiểu thư già chết.
- Cậu có hay vào vườn không?
- Thỉnh thoảng, cậu đi lững thững đến đây và đặt ra cho tôi mấy câu hỏi về việc trồng cây.
- Về trồng hoa à?
- Vâng, các loại hoa, các loài cỏ dại.
Ông già làm vườn cười khùng khục.
- Cỏ dại? - Poirot hỏi bằng một giọng như khích lệ.
Ông quay đầu nhìn lên các giá và mắt ông dừng lại trước một hộp sắt.
- Chắc hẳn anh ta muốn biết diệt cỏ thế nào? - Bạn tôi hỏi.
- Vâng tất nhiên là thế.
Poirot đã nhận thấy trên giá có một hộp kim loại và anh đọc nhãn hộp.
- Ông dùng chế phẩm này ư?
- Vâng - Angus đáp - Tuyệt vời!
- Và theo tôi rất nguy hiểm?
- Không, nếu ta theo đúng cách dùng. Hiển nhiên đó là thạch tín. Cậu Charles và tôi chúng tôi hay nói đùa về thứ đó. Cậu bảo khi nào cậu lấy vợ, nếu vợ cậu làm cậu chán, thì cậu sẽ đến xin tôi một ít thứ bột ấy để rũ bỏ cô ta. “Có lẽ sẽ chính cô ta sẽ muốn tống cổ cậu đi” tôi nói với cậu. Thế là cậu ấy cười vang.
Đến lượt mình chúng tôi cũng cố cười. Poirot nhấc nắp hộp lên.
- Gần như trống rỗng. - Anh thì thào.
Ông già làm vườn liếc mắt nhìn vào đó.
- A! Chẳng còn là bao. Tôi nghĩ là đã không dùng nhiều đến thế. Tôi sẽ đặt mua hộp khác sớm.
Sau khi bày tỏ mấy lời khen ngợi khu vườn chúng tôi chào từ biệt ông già.

Tổng hợp deal ngon trên Internet

Chương trước Chương sau