Đời ảo - Chương 18

Đời ảo - Chương 18

Đời ảo
Chương 18

Ngày đăng
Tổng cộng 27 hồi
Đánh giá 9.2/10 với 19725 lượt xem

Jocelyn, nhờ trời, có vẻ càng lúc càng có nhiều phút nghỉ giữa giờ uống-cà-phê và sang-phòng-con-gái hơn làm việc cho tôi. Tới lần tiếp khi chị ta rời bàn, tôi lấy những tờ về Delphos mà Goddard đưa cho - tôi biết nó hẳn phải về Delphos, thậm chí dù tên công ty không có trên các trang - và nhanh chóng sao ra ở máy đằng sau bàn chị. Rồi tôi cho những bản sao vào một phong bì bìa cứng.
Tôi gửi một bức thư tới “Arthur”, bảo hắn bằng ngôn ngữ mã hóa rằng tôi có đồ mới cần gửi - và tôi muốn “trả lại” “quần áo” tôi đã mua trên mạng.
Tôi biết gửi thư từ nơi làm là mạo hiểm. Thậm chí dù sử dụng hòm thư Hushmail khiến thư được mã hóa. Nhưng tôi thiếu thời gian. Tôi không muốn phải đợi tới khi về nhà, rồi có thể lại phải ra ngoài...
Meacham phản hồi gần như ngay lập tức. Hắn muốn tôi không gửi đồ tới hòm thư ở bưu điện mà tới địa chỉ ở phố. Dịch ra là: Hắn không muốn tôi quét văn bản và gửi bằng thư điện tử, hắn muốn thấy bản cứng thật sự, dù hắn không nói tại sao. Có phải hắn muốn chắc chắn đó là bản gốc? Có phải điều đó nghĩa là chúng không tin tôi?
Hắn cũng muốn chúng ngay lập tức, và vì lý do nào đó hắn không muốn gặp mặt đối mặt. Tại sao? tôi tự hỏi. Hắn lo sợ tôi bị theo đuôi ư? Dù lô gic của hắn là gì, hắn cũng muốn tôi để lại văn bản cho hắn ở một trong những hộp chết chúng tôi đã luyện tập hàng tuần trước đó.
Sau sáu giờ một chút, tôi rời công sở, lái tới một tiệm McDonald’s cách trụ sở Trion khoảng hai dặm. Phòng vệ sinh nam nhỏ, từng-người-vào-một, và bạn có thể khóa cửa. Tôi khóa lại, tìm và mở hộp đựng giấy vệ sinh ra, đặt phong bì bìa cứng cuộn lại vào trong và đóng hộp đựng lại. Cho tới khi cần thay cuộn giấy vệ sinh, sẽ không ai nhìn vào trong - trừ Meacham.
Trên đường ra, tôi mua một bánh kẹp Quarter Pounder - không phải tôi muốn ăn, mà để làm vỏ bọc, như tôi đã được dạy. Xuôi xuống khoảng một dặm là một cửa hàng 7-Eleven với tường bê tông thấp xung quanh khu đỗ xe phía trước. Tôi đỗ xe, đi vào và mua một lon Diet Pepsi, và uống nhiều nhất có thể. Phần còn lại tôi đổ xuống cống trong khu đỗ xe. Tôi đặt một chì câu lấy từ hộp đựng găng tay vào lon, để lon rỗng trên bờ tường bê tông.
Lon Pepsi là dấu hiệu cho Meacham, hắn thường đều đặn lái xe qua cửa hàng 7-Seven này, rằng tôi đã để đồ tại hộp chết số ba, nhà hàng McDonald’s. Ngón nghề tình báo đơn giản này sẽ cho phép Meacham lấy những văn bản mà không bị thấy ở cùng tôi.
Vụ chuyển đồ diễn ra trôi chảy, như tôi xác định. Tôi không có lý do để phải nghĩ khác đi.
Được rồi, việc tôi làm khiến tôi thấy mình bẩn thỉu thật. Nhưng đồng thời, tôi không thể không cảm thấy hơi tự hào: Tôi đang giỏi lên hẳn về chuyện gián điệp này.
61
Đến lúc tôi về nhà, có một bức thư điện tử trong tài khoản Hushmail gửi từ “Arthur”. Meacham muốn tôi lái xe tới một nhà hàng ở nơi khỉ ho cò gáy nào đó, cách hơn nửa giờ đồng hồ, ngay lập tức. Rõ ràng chúng cho việc này là khẩn cấp.
Nơi đó hóa ra là một nhà hàng-spa sang trọng, thánh địa của những kẻ sành ăn với tên Auberge. Tường tiền sảnh được trang trí những bài báo về nơi này đăng trên tờ Ẩm thực và các tạp chí tương tự.
Tôi hiểu tại sao Wyatt muốn gặp tôi ở đó, và không phải chỉ vì đồ ăn. Nhà hàng được bài trí để đáp ứng sự thận trọng tối đa - cho các cuộc gặp riêng tư, các vụ ngoại tình gì đó. Ngoài phòng ăn chính, có các phòng hốc nhỏ, tách rời để ăn riêng, bạn có thể ra vào trực tiếp từ khu đỗ xe thay vì phải đi qua phần chính của nhà hàng. Nó khiến tôi nhớ tới một khách sạn cao cấp.
Wyatt đang ngồi bên bàn ăn trong một phòng hốc với Judith Bolton. Judith tỏ ra thân mật, và thậm chí ngay cả Wyatt dường như cũng ít hằn học hơn mọi khi. Có lẽ bởi vì tôi đã rất thành công lấy cho lão những gì lão muốn. Có lẽ lão đang uống tới ly rượu thứ hai, hay có lẽ chính là Judith, người có ảnh hưởng bí ẩn tới lão. Tôi khá chắc chắn rằng giữa Judith và Wyatt không có chuyện gì, ít nhất là dựa vào ngôn ngữ cơ thể của họ. Nhưng rõ ràng họ thân nhau, và lão chiều ả theo cách mà lão không hề đối xử với bất cứ ai.
Người bồi bàn mang cho tôi một ly rượu Sauvignon Blanc. Wyatt bảo anh ta đi, quay lại sau mười lăm phút, lúc ấy lão mới gọi món. Giờ ở trong này chỉ có mình chúng tôi: tôi, Wyatt và Judith Bolton.
“Adam,” Wyatt vừa nói vừa gặm một miếng bánh mì cỏ thơm của Ý, “những hồ sơ mày lấy được từ văn phòng của Giám đốc Tài chính - chúng rất hữu ích.”
“Tốt,” tôi nói. Giờ tôi là Adam rồi à? Và đó thực sự là lời khen? Nó khiến tôi rùng cả mình.
“Đặc biệt tờ điều khoản về cái công ty Delphos này,” lão tiếp tục. “Rõ ràng đó là một vụ mua lại chủ chốt, mang tính quyết định đối với Trion. Không ngạc nhiên gì khi chúng sẵn sàng trả năm trăm triệu đô bằng chứng khoán cho nó. Dù sao, nó cuối cùng cũng giải được bí ẩn. Nó đặt mảnh cuối cùng trong trò xếp hình vào đúng chỗ. Chúng ta đã đoán ra AURORA là gì.”
Tôi nhìn lão ngây dại, cứ như thể tôi quan tâm ấy, và gật đầu.
“Phi vụ này đáng lắm, đáng giá từng đồng một,” lão nói. “Những phiền phức khổng lồ bọn tao phải trải qua để đưa mày vào Trion, cuộc đào tạo, các biện pháp bảo đảm. Chi phí bỏ ra, rủi ro khổng lồ - tất cả đều đáng giá. Hắn nghiêng cốc về phía Judith, ả cười tự hào. “Lần này anh nợ em nhiều đó,” lão nói với ả.
Tôi nghĩ: Thế còn tao là gì chứ, món gan nghiền nhỏ mọn à?
“Giờ, tao muốn mày nghe cho kỹ đây,” Wyatt nói. “Vì phần đặt cược rất lớn, và tao muốn mày hiểu được tính cấp bách. Hệ thống Trion có vẻ đã phát triển được bước đột phá công nghệ quan trọng nhất kể từ sau mạch tích hợp. Chúng đã giải quyết một vấn đề mà tất cả chúng ta nhọc công trong hàng thập kỷ. Chúng vừa thay đổi lịch sử.”
“Sếp chắc mình muốn cho tôi biết điều này không?”
“Ồ, tao muốn mày ghi nhớ. Mày là thằng nhóc khôn khéo. Hãy chú ý cho kỹ đây. Thời đại của vi mạch Silicon đã qua rồi. Trion không biết làm sao đã xoay xở phát triển được vi mạch quang học.”
“Vậy thì sao?”
Lão nhìn tôi với sự khinh miệt vô bờ. Judith sốt sắng lên tiếng, vội vã, như thể để che đậy cho câu nói hớ của tôi. “Intel đã bỏ ra hàng tỷ đô tìm cách giải quyết điều này mà không thành công. Lầu Năm Góc đã miệt mài với nó hơn một thập kỷ. Họ biết nó sẽ cách mạng hóa các hệ thống điều khiển máy bay và tên lửa của mình, vì vậy họ trả gần như mọi thứ để đặt tay lên được một vi mạch quang học hoạt động được.”
“Vi mạch quang học,” Wyatt nói, “xử lý các tín hiệu quang - ánh sáng - thay vì tín hiệu điện tử, sử dụng một chất gọi là inđi phốt phua.”
Tôi nhớ đã đọc được điều gì đó về inđi phốt phua trong các hồ sơ của Camilletti. “Đó là thứ dùng để làm ra laser.”
“Trion thao túng thị trường đó. Đấy là dấu hiệu. Họ cần inđi phốt phua cho chất bán dẫn trong vi mạch - nó có thể xử lý tốc độ truyền tải dữ liệu cao hơn acxênit gali.”
“Tôi chào thua rồi,” tôi nói. “Nó có gì đặc biệt đến thế?”
“Vi mạch quang học có một bộ điều biến có thể chuyển đổi tín hiệu với tốc độ một trăm gigabyte một giây.”
Tôi chớp mắt. Chuyện này với tôi cứ như nói bằng tiếng Urdu. Judith chăm chú nhìn lão. Tôi tự hỏi liệu ả có hiểu điều gì hay không.
“Đó chính là Chén Thánh. Tao sẽ nói với mày theo khái niệm đơn giản hơn. Một mảnh vi mạch quang học nhỏ duy nhất với đường kính chỉ gấp trăm lần sợi tóc giờ sẽ có thể xử lý đồng thời tất cả các cuộc điện thoại của một tập đoàn, máy tính, vệ tinh và lưu lượng truyền hình. Hay có lẽ mày sẽ có thể nhồi sọ điều này, thằng nhóc: với vi mạch quang học, mày có thể tải về một bộ phim hai giờ ở dạng số trong một phần hai mươi giây, mày hiểu chứ? Đây là một bước nhảy lượng tử trong ngành, trong máy tính, điện thoại di động, vệ tinh và truyền hình cáp, kể hoài không hết được. Vi mạch quang hợp sẽ cho phép những thứ như thế này” - hắn giơ điện thoại Wyatt Lucid lên - “nhận được hình ảnh truyền hình không bị giật. Nó cực kỳ ưu việt, hơn bất cứ công nghệ nào đang tồn tại - nó đảm bảo được tốc độ nhanh hơn, cần ít điện áp hơn nhiều, ít mất tín hiệu hơn, ít tỏa nhiệt hơn... Nó thật đáng kinh ngạc. Đúng là thứ thiệt đó.”
“Tuyệt vời,” tôi khẽ khàng nói. Tầm quan trọng của điều tôi vừa làm bắt đầu thấm, và giờ tôi cảm thấy mình như một thằng phản bội đáng nguyền rủa đối với Trion - tướng Benedict Arnold[20] của chính Goddard. Tôi vừa đưa cho lão Nick Wyatt ghê tởm thứ công nghệ chuyển-đổi-hệ-thuyết có giá trị nhất kể từ ti vi màu gì đó. “Mừng vì giúp được sếp.”
“Tao muốn từng đặc tả đến tận cái cuối cùng,” Wyatt nói. “Tao muốn mẫu thử nghiệm của chúng. Tao muốn các ứng dụng có bằng sáng chế, ghi chép trong phòng thí nghiệm, mọi thứ chúng có.”
“Tôi không biết mình còn có thể lấy được bao nhiêu nữa,” tôi nói. “Ý tôi là chỉ còn thiếu nước đột nhập tầng năm nữa thôi...”
“Ồ, cả điều đó nữa, nhóc, cả điều đó nữa. Tao đã đặt mày vào vị trí mỡ đến miệng mèo rồi còn gì. Mày làm việc trực tiếp cho Goddard, mày là một lính thân cận của hắn, mày có thể tiếp cận với hầu như mọi thứ mày muốn.”
“Không đơn giản như thế. Sếp biết vậy mà.”
“Mức tin cậy anh có được là độc nhất vô nhị, Adam,” Judith xen vào. “Anh có thể tiếp cận được với đủ loại dự án.”
Wyatt cắt ngang: “Tao không muốn mày giữ bí mật một điều chết tiệt nào.”
“Tôi không giữ bí mật...”
“Vụ cắt giảm nhân sự khiến mày ngạc nhiên lắm, thế chứ gì?”
“Tôi đã nói với ông rằng sắp có thông báo quan trọng nào đó. Lúc đó tôi thực sự không biết gì hơn.”
“ ‘Lúc đó,’ ” lão cáu kỉnh lặp lại. “Mày biết về đợt cắt giảm đó trước khi CNN biết, thằng khốn. Tin tức tình báo đó ở đâu? Tao lại còn phải xem CNBC để biết về đợt cắt giảm ở Trion khi mà tao có gián điệp trong cái văn phòng chết giẫm của Tổng Giám đốc Điều hành chắc?”
“Tôi không...”
“Mày đặt bọ trong văn phòng của Giám đốc Tài chính. Nó thế nào rồi?” Bộ mặt rám nắng quá mức của lão tối sầm hơn mọi khi, mắt lão đỏ ngầu. Tôi cảm thấy nước bọt lão bắn tóe ra.
“Tôi phải nhổ nó.”
“Nhổ nó?” lão nói không tin nổi. “Tại sao?”
“Bộ phận An ninh của tập đoàn tìm thấy con bọ tôi đặt lại phòng Nhân sự, và họ bắt đầu rà soát mọi nơi, vì vậy tôi phải cẩn thận. Không thể liều mọi thứ được.”
“Con bọ nằm trong văn phòng Giám đốc Tài chính được bao lâu trước khi mày nhổ đi?” lão bật lại.
“Không quá một ngày.”
“Một ngày sẽ cho mày cả đống thông tin.”
“Không, nó - chậc, thứ đó hẳn bị trục trặc,” tôi nói dối. “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra.”
Thẳng thắn mà nói, tôi cũng không chắc tại sao mình lại giữ bí mật. Tôi đoán là vì con bọ tiết lộ rằng Camilletti là người đã làm rò rỉ thông tin cho tờ Nhật báo Phố Wall, và tôi không muốn Wyatt biết tất cả những công chuyện cá nhân của Goddard. Tôi thực sự không nghĩ thông suốt lắm.
“Trục trặc? Sao tao thấy đáng ngờ quá. Tao muốn con bọ đó về tay Arnie Meacham cuối ngày mai để nhân viên kỹ thuật kiểm tra. Và tin đi, bọn chúng nói được ngay lập tức liệu mày có mó máy vào nó hay không. Hay nếu mày chưa từng đặt nó vào trong văn phòng của Giám đốc Tài chính. Và nếu mày nói dối tao, mẹ mày, mày tiêu rồi.”
“Adam,” Judith nói. “Điều cốt yếu là chúng ta hoàn toàn cởi mở và trung thực với nhau. Đừng giữ lại điều gì. Quá nhiều thứ có thể đi đến sai lầm. Anh không nhìn thấy được bức tranh tổng thể.”
Tôi lắc đầu. “Tôi không có nó. Tôi phải vứt nó đi.”
“Vứt đi?” Wyatt hỏi.
“Tôi... tôi rơi vào thế kẹt, bọn an ninh đang rà soát các văn phòng, nên tôi nghĩ tốt nhất là lấy nó ra vứt vào thùng rác xa chỗ đó vài khu. Tôi không muốn phá hỏng cả phi vụ vì một con bọ trục trặc duy nhất.”
Lão trừng mắt nhìn tôi vài giây. “Đừng bao giờ giữ bí mật cái gì với bọn tao, mày hiểu chứ? Đừng bao giờ. Giờ nghe đây. Bọn tao có nguồn tin tuyệt vời cho biết người của Goddard đang sắp đặt một cuộc họp báo lớn tại trụ sở Trion trong hai tuần tới. Một cuộc họp báo lớn, một tin quan trọng nào đó. Lưu lượng thư điện tử mày đưa tao cho thấy chúng đang trên ngưỡng công bố ra công chúng vi mạch quang học này.”
“Họ sẽ không thông báo nếu như họ chưa nắm được hết các bằng sáng chế, đúng không?” tôi nói. Đêm qua tôi đã tìm hiểu chút ít trên mạng tới khuya. “Tôi chắc sếp đã cho đàn em kiểm tra tất cả các hồ sơ Trion nộp cho Văn phòng Bằng sáng chế Mỹ.”
“Đi học trường luật lúc rảnh rỗi à?” Wyatt cười nhạt. “Mày nộp hồ sơ cho Văn phòng Bằng sáng chế Mỹ vào giây phút cuối, muộn nhất có thể, thằng khốn ạ, để tránh bị lộ sớm hay bị vi phạm. Chúng sẽ không nộp hồ sơ cho tới ngay trước thông báo. Cho tới lúc đó, quyền sở hữu trí tuệ được giữ như một bí mật thương mại. Cũng có nghĩa là, cho tới khi chúng nộp hồ sơ - có thể vào bất cứ lúc nào trong hai tuần tới - đây sẽ là mùa chúng ta đi săn đặc tả thiết kế. Đồng hồ đang tích tắc. Mẹ kiếp, tao không muốn mày ngủ hay nghỉ ngơi dù chỉ một phút chừng nào mày chưa lấy được đến chi tiết cuối cùng về vi mạch quang học, hiểu rõ rồi chứ?”
Tôi mệt mỏi gật đầu.
“Giờ thì xin thứ lỗi, bọn tao muốn gọi đồ ăn.” Tôi đứng dậy khỏi bàn và đi ra toa lét nam trước khi lái xe đi. Khi tôi rời khỏi phòng ăn riêng, một người đưa mắt nhìn tôi.
Tôi hoảng hồn.
Tôi quay ngoắt lại và đi qua phòng ăn riêng để tới bãi đỗ xe.
Lúc đó tôi không chắc trăm phần trăm lắm, nhưng người trong hành lang trông rất giống Paul Camilletti.
62
Có người trong văn phòng tôi.
Khi tới làm vào sáng hôm sau, tôi thấy họ từ đằng xa - hai người đàn ông, một trẻ, một già hơn - và tôi sững người. Đã bảy giờ ba mươi sáng, và không hiểu tại sao Jocelyn không ở bàn mình. Trong khoảnh khắc, đủ loại khả năng lướt qua đầu tôi, càng về sau càng tệ: Nhân viên an ninh không biết làm sao đã tìm thấy thứ gì đó trong văn phòng tôi. Hay tôi đã bị đuổi việc và họ đang dọn đồ khỏi bàn. Hay tôi bị bắt.
Tiến về phía văn phòng, tôi cố giấu sự căng thẳng. Tôi vui vẻ lên tiếng, như thể họ là bạn thân ghé qua chơi, “Chuyện gì vậy?”
Người nhiều tuổi hơn đang ghi chép lên một kẹp hồ sơ, người trẻ hơn giờ đang cúi người qua máy tính của tôi. Người nhiều tuổi hơn, tóc bạc và ria quặp, kính không vành, nói: “Nhân viên an ninh. Thư ký của anh, cô Chang, cho chúng tôi vào.”
“Có chuyện gì vậy?”
“Chúng tôi đang rà soát tất cả các văn phòng trên tầng bảy. Không biết liệu anh đã nhận được thông báo về vụ vi phạm an ninh ở bộ phận Nhân sự chưa.”
Tất cả chuyện là như thế sao? Tôi nhẹ người. Nhưng chỉ trong một vài giây. Nếu như họ tìm thấy thứ gì trong bàn tôi thì sao? Liệu tôi có để món đồ nghề gián điệp nào rồi khóa lại trong ngăn bàn hay ngăn tủ hồ sơ không? Tôi đã tạo thành thói quen không bao giờ để gì trong đó. Nhưng nếu tôi sơ suất? Tôi căng ra như dây đàn đến mức có thể dễ dàng lầm lỡ để lại đồ ở đó.
“Hay quá,” tôi nói. “Thật mừng có các anh ở đây. Các anh chưa tìm thấy thứ gì chứ, phải không?”
Một thoáng im lặng trôi qua. Người trẻ hơn nhìn lên từ máy tính của tôi và không trả lời. Người lớn tuổi hơn bảo, “Vẫn chưa, chưa đâu.”
“Tôi không nghĩ mình là mục tiêu, chắc chắn rồi,” tôi bổ sung. “Trời ạ, tôi không quan trọng đến thế. Ý tôi là ở trên tầng này, trong văn phòng của các sếp ấy.”
“Chúng tôi không được phép trao đổi về vấn đề đó, nhưng chưa, chúng tôi chưa tìm thấy gì cả. Tuy nhiên, cũng không có nghĩa là chúng tôi sẽ không tìm thấy.”
“Máy tính của tôi ổn chứ?” tôi nói với người thanh niên.
“Cho đến giờ không phát hiện ra thiết bị hay thứ gì như thế.” Anh ta trả lời. “Nhưng chúng tôi sẽ phải chạy một vài chẩn đoán. Anh đăng nhập vào cho chúng tôi được không?”
“Chắc chắn rồi.” Tôi không gửi thư nào có thể buộc tội mình từ máy tính này, phải không nhỉ?
Chà, có, tôi đã gửi. Tôi gửi thư cho Meacham từ tài khoản Hushmail. Nhưng thậm chí dù tin nhắn đó không được mã hóa, nó cũng sẽ không nói cho họ biết điều gì. Tôi chắc chắn tôi không lưu tệp tin nào mà mình không nên có vào máy tính. Điều đó thì chắc chắn. Tôi bước ra đằng sau bàn và gõ mật khẩu. Cả hai nhân viên an ninh đều biết ý nhìn ra chỗ khác cho tới khi tôi đã đăng nhập xong.
“Ai được vào văn phòng của anh?” người lớn tuổi hơn hỏi.
“Chỉ có tôi. Và Jocelyn.”
“Và đội lao công nữa,” anh ta tiếp tục.
“Tôi đoán thế, nhưng tôi chưa bao giờ thấy họ.”
“Anh chưa bao giờ thấy họ?” Anh ta lặp lại ngờ vực. “Nhưng anh làm tới tối muộn, đúng không?”
“Họ còn làm muộn hơn.”
“Còn về thư từ nội bộ thì sao? Anh có biết có người chuyển thư nào tới đây khi anh ra ngoài không?”
Tôi lắc đầu. “Mọi thứ đều tới bàn của Jocelyn. Người ta không bao giờ chuyển thẳng tới bàn tôi.”
“Có ai ở phòng công nghệ thông tin từng xử lý máy tính hay điện thoại của anh không?”
“Như tôi biết thì không.”
Người trẻ hơn bảo, “Anh nhận được thư nào lạ lùng không?”
“Lạ lùng...?”
“Từ những người anh không biết, với tệp tin đính kèm gì đó.”
“Như tôi nhớ thì không.”
“Nhưng anh có sử dụng các dịch vụ thư điện tử khác phải không? Ý tôi là ngoài Trion?”
“Chắc chắn rồi.”
“Đã bao giờ anh truy cập vào chúng từ máy tính này chưa?”
“Rồi, tôi chắc là rồi.”
“Và ở những hòm thư đó anh có bao giờ nhận được thư nào trông buồn cười không?”
“Chậc, lúc nào tôi cũng nhận được thư rác, như tất cả mọi người thôi. Anh biết đấy, Viagra hay ‘Dài thêm bảy centimet’ hay thư về gái trang trại.” Dường như không ai trong hai người bọn họ có tính hài hước. “Nhưng tôi chỉ xóa hết đi.”
“Sẽ chỉ mất năm mười phút,” người trẻ hơn nói, đẩy một cái đĩa vào ổ CD-ROM. “Có lẽ anh có thể làm một tách cà phê gì đó.”
Thực ra tôi phải họp, vì vậy tôi bỏ mấy tay an ninh lại văn phòng, dù cảm thấy không yên tâm lắm, rồi tới Plymouth, một trong các phòng họp nhỏ.
Tôi không thích họ lại hỏi về các hòm thư ngoài. Như thế tồi tệ lắm. Đúng hơn, nó dọa tôi sợ chết khiếp. Nếu như họ quyết định lục lọi tất cả thư từ của tôi thì sao? Tôi đã được thấy điều đó dễ thực hiện như thế nào. Nếu họ phát hiện ra tôi đã yêu cầu bản sao lưu lượng thư của Camilletti? Điều đó có khiến tôi thành kẻ bị nghi ngờ không?
Khi đi ngang qua văn phòng của Goddard, tôi thấy cả ông và Flo đều không có mặt - Jock tới cuộc họp, tôi biết. Rồi tôi đi qua Jocelyn, chị mang theo một ca cà phê. Trên đó có in dòng chữ LÝ TRÍ ĐI VẮNG - QUAY LẠI SAU NĂM PHÚT.
“Bọn an ninh ngu ngốc đó còn ở bàn tôi không?” chị hỏi.
“Giờ họ ở trong văn phòng tôi rồi,” tôi nói và tiếp tục đi.
Chị hơi vẫy tay chào.

Chương trước Chương sau