Hồn ma Diến Điện - Chương 07

Hồn ma Diến Điện - Chương 07

Ma tình Diến Điện

Ngày đăng
Tổng cộng 8 hồi
Đánh giá 9.5/10 với 3638 lượt xem

Lúc chàng tỉnh dậy thì tứ bề vắng tanh.
Việc thứ nhất của chàng là nhìn đồng hồ tay. Đúng 9 giờ. 9giờ sáng hay 9 giờ tối ? Văn Bình tin là 9 giờ sáng vì ánh nắng gay gắt từ bên trên chuyển xuống. Chàng chỉ mê man trong 3 tiếng đồng hồ. Và phút này, chàng đang ở trên ca nô vì đối diện chàng là cái giường sắt quen thuộc, và nền phòng chồng chềnh nhẹ.
Văn Bình cựa mình.
Chàng cảm thấy vướng ở tay chân. Thì ra chàng bị trói vào một cọc sắt gần cầu thang. Chàng hít thở không khí đầy lồng ngực để xua đuổi những vi tử chất độc cuối cùng còn sót lại trong máu. Có lẽ vì thuốc mê bỏ vào cà phê chưa đúng liều lượng nên Văn Bình đã tỉnh dậy quá sớm. Nhưng cũng có lẽ vì Inka muốn chàng ngất đi một thời gian ngắn.
Văn Bình lẩm bẩm :
-Inka ! Inka !
Trong óc chàng, hình bóng gã đàn ông lịch lãm người Anh hiện ra, nụ cười ngạo nghễ trên môi. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Inka đã mời chàng cà phê pha thuốc mê. Tại sao Inka lại đánh thuốc mê chàng ? Nghĩa là hắn phải là kẻ thù của chàng. Việc chận bắn chiếc phi cơ vận tải trên không phận và việc Inka đậu ca nô bên dưới chờ đợi đã hoàn toàn ăn khớp với nhau.
Nhưng ai là người ra lệnh cho phản lực cơ xạ kích và cho Inka rình sẵn trên sông Irrawaddy ?
Văn Bình vội nín thở.
Chàng vừa nghe tiếng người nói. Tiếng trò chuyện giữa đàn ông và đàn bà. Giữa Inka và Sophie.
Giọng nói từ trên vọng xuống. Chắc hai người đang ở trong căn phòng trống trơn, nhỏ xíu ở đầu cầu thang. Inka có vẻ lo lắng, van vỉ. Còn Sophie thì nhấn mạnh từng tiếng, có vẻ cương quyết.
Tiếng Inka :
-Yêu cầu cô tránh sang bên cho tôi xuống cabin.
Tiếng Sophie :
-Anh phải cam kết rồi tôi mới bằng lòng cho anh xuống. Nếu không, tôi quyết mang tính mạng ra để ngăn anh.
-Sophie không nên làm như vậy. Trên đời tôi chưa quý trọng ai bằng Sophie. Ngay cả đến thân thế tôi cũng còn thua xa. Vì Sophie, vì sợ mất Sophie nên tôi chỉ cho hắn uống thuốc ngủ. Lẽ ra, theo lệnh thượng cấp, phải đầu độc hắn…
-Tôi không tin.
-Về Ngưỡng Quang gặp thượng cấp, cô mới tin tôi nói đúng.
-Hừ, thượng cấp của anh, không phải thượng cấp của tôi, anh hiểu chưa ? Họ muốn tôi phản Abê, tôi từ chối thì họ mang gia đình tôi ra hăm dọa. Họ bảo rằng mẹ tôi đang sinh sống ở miền Bắc trong một vùng không lấy gì làm an ninh. Họ chỉ cần giơ ngón tay lên là có chuyện. Ngoài ra còn có thân nhân của tôi nữa. Thoạt đầu, tôi cũng mềm lòng. Nhưng từ khi Abê thiệt mạng, lòng tôi đã biến thành đá. Anh đừng tìm cách lung lạc tôi nữa, vô ích.
-Cô đã hiểu lầm tôi. Thật ra, tôi đâu có ý định lung lạc cô. Không riêng gì cô, bản thân tôi cũng chẳng muốn cộng tác với họ. Song tôi không thể nào thoái thác vì trong 10 năm nay, tôi đã thu vén được một tài sản khổng lồ. Nếu tôi lắc đầu, họ sẽ làm cho sự nghiệp tôi tiêu tan thành khói. Như cô đã biết, đây là chuyến lên miền Bắc cuối cùng của tôi. Xong xuôi, tôi sẽ đáp chuyến máy bay sớm nhất vê Luân Đôn. Tôi yêu cầu cô nghĩ lại… Tôi sẵn sàng làm tôi mọi cho cô trọn đời…
-Tôi muốn một người anh nghiêm khắc và quyền thế, tôi không thích người chồng tôi mọi.
-Phải rồi… Tôi biết cô … cô yêu hắn… Trước kia, chưa khi nào tôi bị cô nhục mạ như vậy. Vì quá yêu hắn, cô đã chà đạp lên danh dự con người của tôi.
-Anh ghen ư ?
-Không phải ghen. Cô chưa là vị hôn thê hoặc tình nhân của tôi nên tôi chưa có quyền ghen. Vả lại, ghen không phải là tính tình của đàn ông…
-Anh đừng tự dối lòng thêm nữa. Nhìn cặp mắt của anh, tôi thấy rõ là anh đang ghen. Ghen một cách vô lý. Ghen một cách hung dữ.
-Vâng. Cô muốn gọi đó là ghen hay gì cũng được. Dầu sao cũng đã tới giờ rồi. Trong vòng 15 phút nữa, ca nô sẽ đến Nambum-Ga. Theo lệnh tôi sẽ ghé bến dưới, thả Vêra xuống rồi quay mũi về miền Nam.
-Còn Môhan ?
-Miễn cưỡng tôi phải tặng hắn một mũi dao rồi xô xác xuống sông.
-Trước khi giết Môhan, anh phải giết tôi đã.
-Cô Sophie, tôi van cô lần nữa.
-Về phần tôi, tôi cũng van xin anh. Tôi sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện do anh đưa ra.
-Kể cả việc…
-Phải, kể cả việc lấy anh làm chồng rồi ngoan ngoãn theo anh như chó theo chủ sang Anh quốc.
-Cô nói thật chứ ?
-Không lẽ tôi đùa với anh. Tôi không còn là đứa con gái ngây thơ và ngu dại nữa. Trước khi làm, tôi đã suy tính kỹ càng. Tôi mang đời tôi ra đổi lấy tính mạng của Môhan.
Im lặng một phút.
Một sự im lặng nặng nề.
Rồi tiếng Inka :
-Tha giết Môhan, tôi có thể sẽ bị người ta giết. Nhưng thôi, chiếm được Sophie tôi cũng chẳng cần, chẳng sợ ai nữa.
Tiếng của Sophie :
-Anh biết một mà chưa biết hai. Người ta sai anh hạ sát Môhan rồi khi anh về Ngưỡng Quang báo cáo, người ta sẽ hạ sát cả anh để bảo toàn bí mật.
Inka thở dài :
-Hồi nãy, tôi cũng nghĩ như cô. Song tôi đành bó tay vì thân phận tôi khác nào kẻ chết đuối vớ được cọc. Bây giờ Sophie muốn tôi làm gì ?
-Cởi trói cho Môhan.
-Chờ đến khi ca nô ghé bờ tiện hơn. Vì điều kiện an ninh, yêu cầu cô cho phép tôi giải hắn lên bộ. Cô nên hiểu hoàn cảnh tôi : nếu tôi không đề phòng, có thể hắn sẽ giết tôi sau khi tỉnh dậy.
-Hiện giờ chắc Môhan còn mê man ?
-Vâng. Thuốc mê chỉ rã trong vòng 30 phút nữa. Từ lâu, tôi hằng chờ dịp may ngàn năm một thuở nắm tay cô. Trước sau cô cũng là vợ tôi, vậy cô không nên giữ thái độ lãnh đạm với tôi nữa.
Một tiếng động khô khan nổi lên. Có lẽ Inka xấn tới ôm Sophie vào lòng sửa soạn hôn. Văn Bình nghe một tiếng tát tai ròn rã kèm theo tiếng quát của Sophie :
-Cấm anh không được làm ẩu.
Giọng Inka rít lên :
-À, mới đó mà cô đã bội ước.
-Tôi chỉ giữ lời hứa sau khi Môhan được cởi trói.
Thật ra Văn Bình đã tự cởi trói trước đó vài phút. Tuy bị trói giật cánh khuỷu bằng giây ni lông bền chắc, chàng vẫn thoát hiểm dễ dàng. Inka đã ra lệnh cho thuộc viên trói nhiều vòng và bện nút kiên cố, song không biết rằng Văn Bình là võ sĩ giỏi Ninjutsu – phép tàng hình Nhật Bản – và thuật Thần ảo công Trung quốc. Nhờ Ninjutsu và Thần ảo công Văn Bình có thể rũ bỏ giây trói không cần dao. Chàng chỉ cần tập trung nguyên khí vào khúc thừng căng nhất trên người rồi vặn mình thật mạnh. Hàng chục vòng ni lông đã đứt tung trong chớp mắt.
Văn Bình từ từ đứng dậy cho dãn gân cốt.
Chàng không để ý tới cửa bên trái vừa mở. Một gã đàn ông Diến xâm đầy tay và cổ bước vào. Thấy Văn Bình, hắn la lên :
-Thiếu tá, thiếu tá, có biến !
Văn Bình tung bàn chân phải vào mặt hắn. Cái đá tuyệt diệu của chàng làm đối phương lộn nhào. Cửa cabin bên phải bị đẩy mạnh. “Thiếu tá” Inka hiện ra, mắt long sòng sọc. Nhanh nhẹn, hắn luồn tay vào nách rút súng. Nhưng khẩu Colt-9 vừa tuột vào lòng bàn tay hắn thì Văn Bình đã nhào tới. Chân phải của Văn Bình phóng theo thế Mae Geri của võ karaté. Khẩu súng bị đá văng xuống nền cabin. Inka cúi xuống lượm song Văn Bình đã tiến lên đá xẹt ngang. Nạn nhân ngã chúi, nằm chổng bốn vó lên trời.
Inka chỉ có mã to con, võ nghệ kém cỏi nên cuộc so tài đã thiếu cân xứng ngay từ phút đầu, và chỉ trong vòng 5 giây đồng hồ ngắn ngủi là hắn bị thảm hại với cổ tay và đầu gối bong gân. Hắn cố bò dậy, mặt tái mét và méo xệch vì đau đớn. Đứng bên, Sophie thản nhiên khoanh tay theo dõi tấn kịch chuột lắt đấu với cọp dữ từ đầu đến cuối, không bỏ lỡ một chi tiết cỏn con nào.
Tuy vậy, thái độ thản nhiên của nàng chỉ là sự thản nhiên giả tạo của mặt nước hồ trước cơn sóng lớn. Nàng quen Inka từ lâu : hắn không đến nỗi quá tồi về võ thuật. Có lần đi ăn với nàng và Abê, hắn đã quật ngã hai thanh niên khổng lồ say rượu trong một tiệm ăn sang trọng. Đêm ấy, Inka giải quyết vụ lộn xộn trong chớp mắt. Đối phương chưa kịp vung tay thi thố quyền Anh thì Inka đã dùng một thế nhu đạo kỳ diệu đánh bạt vào góc phòng.
Nguyên nhân của vụ ẩu đả là hai gã lạ mặt cậy có khối thịt đồ sộ buông lời ong bướm thô lỗ với Sophie. Sau khi Inka toàn thắng trước con mắt khâm phục của thực khách - trong số có khá nhiều phụ nữ kiều diễm – nàng cất tiếng khen ngợi :
-Anh giỏi võ ghê. Trông anh như nhà võ sĩ vô địch trên đài.
Thì Inka nhũn nhặn đáp :
-Cô quá lời. Tôi chỉ võ vẽ dăm ba miếng tầm thường. Sở dĩ tôi hạ được hai cái tủ gương này là nhờ cô.
-Nhờ tôi ?
-Vâng, nhờ khích lệ tinh thần của cô. Không hiểu sao, sự hiện diện của cô bên tôi đã làm tôi khỏe mạnh gấp chục, gấp trăm lần ngày thường. Dường như cô là bà tiên trên thượng giới xuống truyền dạy võ nghệ và pháp thuật màu nhiệm cho tôi…
Hôm nay, trên giòng Irrawaddy, Inka cũng có nàng một bên. Nghĩa là hắn trở nên khỏe mạnh và giỏi võ gấp chục, gấp trăm lần ngày thường. Vậy mà chàng thanh niên có bắp thịt rắn chắc và cặp mắt sáng quắc kia đã triệt hạ Inka trong vòng mấy giây đồng hồ phù du… Nàng đứng lặng vì một mãnh lực vô hình đã giữ chặt thân thể nàng, không cho nàng cử động nữa. Mãnh lực này là ái tình, một thứ ái tình kỳ lạ…
Chờ cho Inka đứng dậy, Văn Bình mới gằn giọng :
-Anh còn muốn giết tôi nữa không ?
Tuy phải vịn vào giường sắt để khỏi loạng choạng, Inka vẫn cố vớt vát danh dự.
-Chẳng qua tôi bị anh tấn công bất thần. Tôi lại bị thương. Nếu không …
Văn Bình đỡ Inka ngồi xuống :
-Sắp đến Nambum-Ga rồi, tôi không muốn mình mất thời giờ vô ích với anh nữa. Anh tìm cách giết tôi song đã thất bại. Theo lẽ thông thường, tôi phải giết anh.
Inka giật bắn người :
-Vâng, tôi hiểu. Hại nhân thì nhân hại, dầu bị chết dưới tay anh, tôi cũng không dám ta thán. Nhưng anh cũng hiểu cho rằng tôi không hề thù nghịch anh. Chẳng qua người ta đưa tôi vào thế kẹt.
Văn Bình quay sang Sophie :
-Cô nghĩ thế nào ?
Sophie đáp ngay :
-Tôi tin là anh tha giết Inka.
Văn Bình cười rộ :
-Đàn bà tài thật ! Cô đã đọc thấu tư tưởng tôi. Đúng vậy, tôi sẵn sàng quên hết mọi việc xảy ra.
Nhìn giữa mắt Inka, chàng nói tiếp :
-Yêu cầu anh lên boong đốc thúc cho thủy thủ ghé bờ. Sau khi cho chúng tôi lên bộ, anh sẽ được tự do. Tôi không muốn anh lưu lại phút nào ở Nambum-Ga. Anh phải trở lại miền Nam. Anh đã nghe rõ chưa ?
-Nghe rõ.
Văn Bình ghé vai cõng Inka. Hắn ngoan ngoãn bíu lấy cổ chàng như đứa trẻ. Với cây thịt nặng nề trên vai, Văn Bình vẫn bước thoăn thoắt lên cầu thang.
Nắng trưa chiếu thẳng xuống đỉnh đầu làm Văn Bình chói mắt.
……………
Trước đó hai giờ, mặt trời cũng đổ sức nóng thiêu đốt xuống khu nhà sang trọng của Tin Aung, xã trưởng Nambum-Ga.
Khu nhà rộng thênh thang này nằm dọc theo ngọn đồi thoai thoải, nền đất đỏ tuơng phản neê thơ với nền cây xanh ngắt, và nền tường trắng toát. Cũng như mọi ngày, Tin dậy trưa. Hồi còn thanh niên, hắn dậy rất sớm, đeo cung tên vào rừng từ tinh sương. Lẽ sống của Tin là những cuộc săn thú say mê, bất chấp nhọc mệt, khó khăn và nguy hiểm chết người. Nhưng thời gian trôi qua, mái tóc càng ngã sang màu muối tiêu xã trưởng Tin Aung càng dậy muộn. Vì đêm nào cũng như đêm nào, mùa hè nóng nực hay mùa đông lạnh buốt, Tin đều thức khuya. Thức rất khuya. Thức đến 3, 4 giờ sáng bên cạnh những người đàn bà tuyệt đẹp.
Sau khi mở mắt, Tin chưa nhảy xuống giường vội. Một cô gái nảy nở tròn trịa như trăng rằm đã chờ sẵn với mâm đèn thuốc phiện. Mỗi sáng, Tin phải súc miệng bằng khói thơm của ả Phù Dung. Xã trưởng Tin Aung không hút xô bồ như nhiều người khác. Cái tẩu được làm toàn bằng ngà voi, trạm trổ long li quy phượng, miệng tẩu bằng nhựa hóa học ngậm không mòn, không gãy, còn nồi tẩu thì bằng bot biển Amboseli (1) - một thứ đá trắng, nhẹ, thơm thoảng tinh khiết hiếm có tìm thấy ở đông bộ Phi châu – hút vào kêu ròn tan, khói thuốc tăng thêm mùi vị tân kỳ.
Thuốc phiện do Tin Aung sản xuất theo công thức trồng trọt, xẻ nhựa và chế biến đặc biệt. Gần một mẫu đất phì nhiêu được Tin dành cho cây á phiện. Hắn lại dùng toàn phụ nữ - nhất là con gái đồng trinh - để chăm bón, và lấy nhựa vì theo truyền thuyết và kinh nghiệm hơi hướng nữ giới ảnh hưởng lớn tới mức thơm ngon của thuốc.
Người ta thường bảo rằng thuốc phiện sẽ làm mắt trắng dã, môi thâm sì, vai so, cổ rụt, thân thể thanh niên cường tráng tràn trề sinh lực thành gỗ đá vô tri trước đàn bà khêu gợi. Nhưng đối với Tin Aung, tình trạng trái ngược đã xảy ra. Có lẽ vì hắn hút toàn thuốc thượng hảo hạng nên càng hút hắn càng khỏe khoắn, càng hút hắn càng tăng thêm sức mạnh yêu đương.
Hút xong, hắn nằm dài trên đệm cho một đạo quân phụ nữ đấm bóp. Kẻ nắm tay, người bóp chân, ít nhất là bốn cô gái xinh tươi phụ trách tẩm quất cho Tin Aung.
Bữa điểm tâm của Tin Aung là một kỳ công của nghệ thuật phụng sự thần khẩu và thần ái tình. Thực đơn bắt buộc trong mọi bữa ăn sáng này là 3 lòng đỏ trứng gà. Từ xưa đến nay, ai cũng biết lòng đỏ trứng gà rất bổ dưỡng, nhưng phải là người sành điệu từng đọc cẩm nang ái tình Á rập « Hương viên » như Tin Aung mới biết được rằng 3 lòng đỏ trứng gà ăn sáng thường xuyên sẽ có tác dụng cải lão hoàn đồng trong hoạt động phòng the (2).
Món ăn thì mỗi ngày một đổi, và có cả trăm song món thông thường và được Tin ưa chuộng là óc chim bồ câu và đuôi cá sấu (3).
Sau khi hút thuốc, đấm bóp, ăn điểm tâm, Tin mới ra khỏi phòng Trong thời gian ấy, không ai được quyền tới phá rối. Lệnh của hắn ban ra, thuộc viên phải tuân theo răm rắp. Vì từ nhiều năm, Tin Aung đã là ông trời con trong miền núi rừng hiểm trở phía Bắc.
Nhưng hôm nay, thời khóa biểu vương giả của xã trưởng Nambum-Ga hoàn toàn thay đổi. Vì một bức thư ngắn ngủi từ trong rừng gửi tới.
Đang hút thuốc, Tin Aung choàng dậy, quên cả đấm bóp, ăn điểm tâm và thưởng thức sắc đẹp chín mùi của đoàn hầu non ngoan ngoãn. Hắn vỗ tay gọi vệ sĩ, dặn lấy một tiểu đội võ trang đầy đủ. Hắn trèo lên xe díp, ra lệnh cho tài xế :
-Ra bờ sông.
Nắng trưa chiếu thẳng xuống bến tàu.
……….
Hơi lạnh đã tan hết chỉ còn những mảng sương trắng lạc lõng trong kẽ lá dày đặc.
Thị trấn Nambum-Ga hiện ra trước mũi ca nô. Đó là một tiểu thị trấn nằm sát biên giới, lọt thỏm giữa những đồi núi trùng điệp, lởm chởm đá nhọn, cây cối mọc um tùm. Vẻn vẹn chỉ có bạn, bốn đường phố, và vài chục ngôi nhà gạch hai, ba tầng lẻ loi còn toàn là đường đất ngoằn ngoèo, bẩn thỉu, và nhà sàn, mái lợp rơm rạ cong queo như mái chùa.
Con tàu ọp ẹp của Inka từ từ cập bến giữa tiếng gà gáy, tiếng dê kêu và chó sủa. Quang cảnh buồn tênh.
Vêra tựa vào lan can tàu, vẻ mặt đăm chiêu. Nàng còn mệt vì không quen với thuốc ngủ.
Inka giật mình khi thấy binh sĩ đội mũ sắt, mặc đồng phục, cầm tiểu liên đứng sẵn trên cầu phao. Hắn quay về phía Văn Bình, giọng run run :
-Lính cảnh bị của Tin Aung. Lạ thật, họ ra đây làm gì ? Hay là du kích quân sắp tấn công thị trấn .
Văn Bình nhìn tứ bề vắng tanh bằng cặp mắt thản nhiên. Dầu sao chàng cũng không thể quay về được nữa. Muốn bắt cọp chàng phải vào hang hùm.
Hai khẩu trung liên được bố trí trên sân thượng một toà nhà ba tầng nhìn ra bến tàu, phía sau lố nhố mũ sắt. Tiểu đội cảnh bị án ngữ trên bờ sông tách ra làm đôi. Một nửa nhảy xuống hố cá nhân, kê súng lên bao cát, chĩa về phía ca nô. Một nửa dàn thành hàng ngang, tiến lại gần mặt nước, cách boong tàu một quãng ngắn.
Hai người lính từ từ bước xuống ca nô. Inka chặn họ lại :
-Các ông đi đâu ?
Người thứ nhất lạnh lùng đáp :
-Chúng tôi được lệnh mời các hành khách lên bộ.
-Tôi là Inka, thiếu tá Inka. Ở đây, ai cũng biết tôi. Các ông quên tôi rồi ư ?
-Lệnh trên không cho phép chúng tôi trò chuyện với hành khách. Xin ông cảm phiền.
-Tôi không phải là hành khách, mà là chủ hãng thuyền máy. Và là bạn của xã trưởng.
-Xã trưởng ra lệnh cho chúng tôi tới mời ông.
-Mời đi đâu ?
-Ông sẽ biết sau.
-Tôi là công dân Anh quốc, nghĩa là ngoại kiều. Toàn thể hành khách trên tàu đều là ngoại kiều. Theo luật lệ, các ông không có quyền làm khó dễ ngoại kiều, nhất là người Anh.
Người lính thứ hai quắc mắt :
-Ông nhiều lời quá. Phiền ông lên bờ ngay cho…
Inka cưỡng lại :
-Coi chừng. Tôi sẽ phản đối với Tin Aung.
-Tùy ông. Ông muốn phản đối với ai cũng được. Nhưng trước khi phản đối, ông phải tuân lệnh chúng tôi.
-Tôi không phải là phạm nhân. Các ông…
Người lính thứ nhất thúc mũi súng vào bụng Inka :
-Im miệng. Nếu ông cưỡng lệnh, miễn cưỡng tôi phải nổ súng.
Inka nắm chắc bàn tay để kềm hãm tức giận rồi hắn nhún vai, giọng khinh bỉ :
-Được, tôi bằng lòng im miệng. Các anh muốn đưa chúng tôi đi đâu thì đưa.
Văn Bình chứng kiến cuộc va chạm giữa Inka và hai tên lính cảnh bị, vẻ mặt lạnh như tiền và không nói một lời. Dưới ánh nắng gay gắt, chàng đặt chân lên bờ sông đầy bụi đỏ hoe. Mọi người được dẫn qua đường phố xơ xác và bẩn thỉu, tới một tòa nhà hai tầng khá rộng, lợp tranh, quét vôi trắng, nằm chềnh ềnh giữa những bụi cây rậm rạp, nhìn thẳng ra bến tàu.
Đó là khách thất của thị trấn Nambum-Ga. Viên chức chính phủ hoặc du khách thường ngụ tại đây vì trong thành phố không có lữ quán.
Một sĩ quan râu mép ngạo nghễ chờ sẵn ngoài hành lang. Hắn khoát tay ra lệnh cho bọn lính :
-Đàn ông, đàn bà giam riêng, hai người một phòng. Họ không được đi ra ngoài nghe chưa ?
Nói đoạn hắn xăm xăm đi ra ngoài. Vêra đang trèo cầu thang bỗng loạng choạng. Nàng cố vịn lan can để khỏi ngã. Một tên lính vội chạy tới, xốc nách nàng lên. Văn Bình nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu khi thấy tên lính lợi dụng cơ hội để ôm cứng lấy Vêra. Hắn không đỡ vai nàng mà chỉ nghĩ đến xâm chiếm bộ ngực tròn trịa. Tuy mỏi mệt, Vêra vẫn còn đủ sức gạt tay hắn ra. Hắn trượt chân, chúi đầu vào vách tường.
Văn Bình tự nhủ sẽ đóng vai ngu si hưởng thái bình nhưng sự việc vừa xảy ra không cho phép chàng tiếp tục làm thinh được nữa. Vì tên lính nham nhở đã buông ra một tràng tiếng tục tĩu rồi đứng dậy, chắn ngang mặt Vêra. Nàng nghiêm mặt :
-Tránh ra.
Hắn nhe hàm răng cải mả :
-Qua không tránh thì đã sao ?
Vẻ sửng sốt hiện rõ trong cặp mắt thất thần củaVêra :
-Anh không được hỗn. Lát nữa, tôi sẽ mách với xã trưởng Tin Aung.
Tên lính nắm lấy bàn tay thon đẹp của nàng, giọng chớt nhả :
-Thách đấy !
Tấn trò chướng tai gai mắt diễn ra một cách sỗ sàng mà toán lính cảnh bị chỉ đứng nhìn bình thản. Thậm chí có tên còn cười ngặt nghẽo nữa . Văn Bình bèn chắn ngang Vêra :
-Buông tay lập tức.
Tên lính nham nhở buông tay Vêra nhưng lại chĩa súng vào bụng Văn Bình, hăm dọa :
-Cho anh một phút, anh phải xin lỗi nếu không…
Văn Bình cười nhạt :
-Anh sẽ bắn phải không ?
-Chưa cần. Tôi sẽ cho anh một bài học để đời.
Nói đoạn hắn quạt báng súng vào hông chàng. Trông cách đánh nhậm lẹ và hiểm ác, Văn Bình biết hắn có võ. Tuy nhiên, tài nghệ của hắn chỉ là ngọn đồi bé nhỏ trước đỉnh Thái sơn Z.28 danh lừng thiên hạ. Chàng bèn vận công chịu đòn.
Rắc một tiếng khô khan, báng súng trường gãy làm đôi như thể bị chặt bằng búa.
Tên lính ngó chàng trong sự kinh ngạc lẫn khâm phục. Song tự ái cá nhân bùng dậy, hắn quên nghĩ hơn thua, đâm bổ vào người chàng. Sống bàn tay hắn chém nghiêng nhằm khớp xương quai xanh. Cũng như lần trước, Văn Bình không thèm tránh đòn.
Lệ thường, ít ai bị đánh mạnh vào khớp xương này mà không gãy lìa bả vai. Tên lính chắc mẩm Văn Bình chậm đỡ, chứ không thể ngờ chàng đã vận dụng võ công kỳ diệu để dạy hắn một đường quyền mới. Khớp xương của chàng đột nhiên rắn lại như bê tông cốt sắt. Bàn tay tên lính chạm vào bị dội bật trở lại, và như hai chân có lò xo hắn bị hất lên cao, ngã lộn nhào xuống chân cầu thang. Đầu nạn nhân đập vào bậc thềm xi măng máu chảy lênh láng.
Tên lính cảnh bị thứ hai lên đạn vào nòng nhưng một tiếng quát làm hắn khựng người.
-Không được bắn.
Gã sĩ quan râu mép đứng ở cửa phòng bên dưới quát um bằng thổ ngữ :
-Đồ hèn. Bạn mày bị thương đáng đời. Nó đánh người ta chứ người ta có đánh nó đâu mà mày xấn vào bênh vực.
Gã sĩ quan tiến lên cầu thang, phân trần với Văn Bình :
-Lính của tôi vô lễ, xin quý vị miễn thứ.
Văn Bình nghiêng đầu :
-Không dám. Bản thân tôi không muốn làm mất hòa khí, chẳng qua vì trường hợp bất khả kháng.
-Ông quá nhún nhường. Bọn lính của tôi quả rất hỗn xược. Chúng phải gặp một võ sĩ tuyệt luân như ông mới sáng mắt ra. Ông là kỳ quan về nội công. Tôi luyện môn này từ 15 năm nay mà chưa bằng một phần mười ông.
Hồi nãy gã sĩ quan kênh kiệu bao nhiêu thì giờ đây khiêm tốn bấy nhiêu. Có lẽ ngọn quyền thần sầu của Văn Bình đã làm hắn chột dạ. Hắn dẫn Văn Bình vào phòng giữa trên lầu, căn phòng khang trang nhất, nhìn ra đường, giải thích :
-Xin ông thông cảm. Một phần vì lệnh của xã trưởng. Phần khác vì… phong tục…
Văn Bình gật đầu :
-Vâng, phụ nữ ở riêng phòng tiện hơn. Bà Vêra không được khỏe, phiền ông chăm sóc.
-Chúng tôi xin hết lòng. Tôi sẽ chọn đầy tớ gái lên đây. Về tiện nghi thì chắc chắn là không bằng được dưới thủ đô. Nhưng còn về ăn uống…
-Không hề gì. Khi nào xã trưởng Tin Aung tới ?
-Có lẽ lát nữa.
Tiếng súng máy từ xa vọng lại. Văn Bình hỏi gã sĩ quan :
-Chạm súng ?
Hắn đáp :
-Vâng, dạo này ngày nào cũng có đụng độ giữa lính cảnh bị và du kích quân của thượng tá U Ban.
-Liệu U Ban có chiếm Nambum-Ga không ?
-Tôi không biết. Trên phương diện quân sự, Nambum-Ga chỉ là một cái đồn nhỏ, phòng thủ lấy lệ, du kích quân muốn nuốt chửng lúc nào chẳng được.
-Tại sao U Ban lại buông tha Nambum-Ga ?
-Vì Tin Aung cố gắng thỏa mãn những điều y muốn để đổi lấy sự yên tĩnh cho thị trấn. Tin đã bắt Seng Ho nộp cho U Ban. Dường như ông và các bạn cũng bị bắt vì lý do tương tự.
-Nghĩa là theo lệnh của U Ban ?
-Vâng.
-Chúng tôi được chính phủ trung ương phái lên đây. Trong trường hợp ông có thể giúp đỡ…
Vừa nói Văn Bình vừa bỏ tay vào trong túi áo. Nhìn xấp Anh kim mới toanh rực sáng trước mắt, gã sĩ quan nuốt nước bọt ừng ực :
-Ông muốn tôi giúp gì ?
Gã sĩ quan há miệng chưa kịp đáp thì thân thể bỗng mềm nhũn. Một mũi tên nhỏ xíu từ ngoài hành lang bay vào cắm giữa yết hầu. Gã sĩ quan quay lộn một vòng rồi ngã xuống. Văn Bình nghe hắn thở hắt ra nhè nhẹ.
Thế là hết.
Xã trưởng Tin Aung lệt xệt kéo giày đến cửa phòng. Mỗi bên mình hắn có một vệ sĩ cầm ná. Gã sĩ quan xấu số vừa bị hạ sát bằng mũi tên vầu tẩm nọc rắn độc do một vệ sĩ bắn ra.
Hắn dõng dạc ra lệnh cho vệ sĩ :
-Khiêng xác ném xuống huyệt cho kên kên ăn thịt.
Rồi quay về phía Văn Bình và Inka :
-Thật phiền cho hai ông. Kên kên là giống chim chuyên rỉa thịt người chết. Cánh rừng nào ở Đông Nam Á cũng có chim kên kên. Nhưng chim kên kên ở miền Bắc Diến Điện nổi tiếng hung hăng nhất, thèm thịt người chết nhất. Nhân viên của tôi đứa nào phản thùng đều được vứt xuống hố sâu ở sườn đồi làm quà cho bọn kên kên. Kên kên trong vùng này là bạn tri kỷ của tôi. Chúng kêu la từ sáng đến giờ mà chưa được ăn.
Tin Aung nhắc đến chuyện chết chóc thê thảm bằng giọng say sưa và hân hoan như người khoe khoang kỷ niệm chăn gối với đàn bà đẹp. Chắp tay ra sau, Văn Bình hỏi hắn :
-Ông là Tin Aung, xã trưởng Nambum-Ga ?
Tin Aung gật đầu :
-Câu hỏi của ông hơi thừa. “thiếu tá” Inka quen biết tôi từ lâu. Vả lại, trước khi lên đây, chắc hẳn ông đã tìm hiểu về tôi phải không, đại tá Văn Bình Z.28 ?
Tin Aung dằn mạnh tiếng Z.28 kèm theo nụ cười bí hiểm trên đôi môi thâm sì vì á phiện. Viên xã trưởng Nambum-Ga cố gắng khám phá một sự thay đổi cỏn con trên mặt Văn Bình, nhưng sau vài phút đồng hồ quan sát hắn đã thất vọng.
Văn Bình đủng đỉnh :
-Inka có nhắc đến tên ông song tôi không để ý.
-Z.28, đại tá đừng kiêu ngạo như vậy.
-Ngược lại, ông cũng đừng dùng xác chết của một sĩ quan thuộc viên để hăm dọa phủ đầu. Nếu sợ, tôi đã không đơn thân độc mã tới Diến Điện, và lên miền rừng xanh núi đỏ này. Ông giữ chúng tôi ở đây với mục đích gì ?
-Vì thượng tá U Ban dọa làm cỏ thị trấn Nambum-Ga.
-Khi nào ông nộp chúng tôi cho họ.
-Có lẽ nội ngày nay. Từ phút này trở đi, yêu cầu các ông ở nguyên trong phòng. Cảnh bị của tôi sẽ nổ súng để ngăn chặn mọi ý định tẩu thoát.
Inka xen vào :
-Tin Aung, ông có thể tàn nhẫn đến thế được ư ?
Tin Aung khoát tay :
-Nếu tôi không bắt các ông thì họ sẽ bắt tôi. Vì quyền lợi chung, tôi đành phải hy sinh tình bạn.
Inka nắm ve áo Tin Aung, giọng cầu khẩn :
-Ông hãy tha tôi. Tôi sẽ bỏ xứ này mà đi. Mọi của chìm của nổi của tôi ở đây xin biếu ông hết.
Tin Aung xô hắn ra :
-Yêu cầu ông ngậm miệng. Bình sinh tôi rất ghét hối lộ. Người Diến rất trọng danh dự, ông nhớ không ?
Inka vẫn van nài :
-Tin… ông nghĩ lại cho tôi nhờ.
Tin Aung đẩy hắn xuống ghế một cách tàn nhẫn. Nhưng Inka cứ bám chặt lấy viên xã trưởng như đỉa đói.
Mọi việc xảy ra chớp nhoáng, khiến Văn Bình không kịp theo dõi. Thoạt đầu, chàng thấy Tin Aung bước dạt sang một bên, Inka lao theo. Rồi sau tiếng ra lệnh khô khan của chủ nhân, một tên vệ sĩ lắp mũi tên vầu vào cung tre. Phập một tiếng nhẹ, Inka ngã nhào, vập đầu vào chân tường. Mũi tên thuốc độc đã kết liễu đời hắn trong mấy giây đồng hồ ngắn ngủi.
Văn Bình định lợi dụng tình thế thì tên vệ sĩ thứ hai đã chĩa ná vào người chàng. Tin Aung nói :
-Thưa đại tá, mạng người ở miền rừng núi nguy hiểm này còn rẻ hơn mạng ruồi kiến ở miền trung châu nữa… Ai cãi lời tôi thì phải chết.
Văn Bình phẫn nộ :
-Dầu sao thái độ của Inka cũng không đáng để ông ra lệnh cho vệ sĩ hạ sát.
Tin Aung vẫn điềm nhiên :
-Rồi ông sẽ hiểu.
-Tôi muốn ông giải thích ngay bây giờ.
-Không thể được.
Văn Bình nín thinh. Tin Aung vỗ tay. Hai tên vệ sĩ khác, cởi trần trùng trục, mình mẩy đen thui, đóng khố da cọp, quấn khăn mỏ rìu, lù lù dưới nhà đi lên. Dường như viên xã trưởng đã dặn dò từ trước nên hai tên vệ sĩ lẳng lặng tiến về phía Văn Bình, mỗi đứa nắm một bàn tay Văn Bình.
Văn Bình không kháng cự vì biết kháng cự vô ích. Chàng nhún vai nhìn Inka nằm ngửa, mắt trợn trừng, một tia máu đen ri rỉ ra ngoài mép. Bất giác, Văn Bình ngó trộm Tin Aung. Qua đôi mắt, chàng nhận thấy viên xã trưởng độc ác và đểu cáng cũng nhìn trộm chàng. Cái nhìn lén lút của hắn phảng phất một sự khó hiểu kỳ quặc.
Qua phòng giam Vêra và Sophie, chàng thấy cửa đóng kín. Có lẽ họ đã bị giải đi trước chàng.
Dưới sân, một chiếc xe díp mới toanh đã đợi sẵn. Mấy con khỉ vắt vẻo trên cành cây phượng vĩ nhảy xuống đất, trèo lên đầu xe như muốn trêu ngươi. Một đàn muỗi bay theo cơn gió từ rừng tre tới đập vào mắt Văn Bình khiến chàng hoa mắt, choáng váng trong khoảnh khắc. Tiếng thạch sùng tắc lưỡi nghe đều đặn đền nỗi chàng có cảm thấy là từ băng nhựa ghi âm phát ra.
Vêra và Sophie được đưa lên băng sau. Hai người đàn bà lẳng lặng tuân lệnh. Văn Bình ngồi phía trước với tài xế, một thanh niên bộ lạc da đồng hun, mắt ốc lồi, tóc quăn queo, một cái thẹo bề ngang một phân rưỡi dài gần một tấc tây ngăn khuôn mặt dài, xương xẩu ra làm đôi. Cái thẹo xấu xí này là bằng cấp “anh chị“.Hắn không buồn để ý đến chàng, thản nhiên mở máy xe. Hai tên lính cảnh bị đen chùi chũi trèo lên hông xe, khẩu tiểu liên lủng lẳng trên vai trần.
Chiếc díp rú tròn trịa rồi nhảy câng câng trên con đường ngoằn ngoèo đất đỏ, đầy ổ gà sâu hoắm. Phía sau là một xe díp khác chở đầy nhóc binh sĩ võ trang. Và sau cùng là xe của Tin Aung.
Viên xã trưởng đã bố trí cẩn mật, tuy nhiên đối với một điệp viên tài ba, giàu kinh nghiệm trận mạc như Văn Bình thì màng lưới kiên cố vẫn có những kẽ hở. Đến khúc rẽ, chàng chỉ cần gạt nhẹ sang bên phải là hai tên cảnh bị ngã lăn chiêng xuống đường. Một cái gạt nhẹ sang trái sẽ giải quyết tên tài xế lì lợm. Khi đoàn hộ tống nhìn thấy thì đã muộn, chàng đã biến mất vào rừng sâu.
Bụi rậm, hang núi, đèo cao vốn là tri kỷ của Văn Bình. Suốt những năm thơ ấu sôi động, chàng đã quen với cuộc sống nơi sơn lâm cùng cốc, một mình một cây cung hoặc khẩu súng săn của phụ thân. Nhìều khi bị lạc trong rừng lạ, chàng vẫn tìm về nhà dễ dàng nhờ biết định hướng mặt trời, tinh tú ban đêm hoặc căn cứ vào giòng suối chảy từ nguồn xuống đồng bằng, vào lối đi len lỏi của tiều phu, hoặc vào một số cổ thụ làm đích, hoặc vào vết chân thú, vào tiếng chim hót, tiếng kêu của khỉ…
Chàng tới Nambum-Ga lần đầu, nhưng nếu chàng lọt được vào rừng thì bọn lính cảnh bị của Tin Aung khó theo nổi. Với một khẩu súng ngắn núp ở vị trí khôn ngoan, chàng có thể bắn hạ cả tiểu đội mà không hề lộ diện.
Song le ý tưởng thoát thân chỉ thoáng qua trong trí Văn Bình rồi tan biến vì ngoài chàng ra còn có hai người đàn bà, vì còn thượng tá U Ban, còn Seng Ho, còn bí mật dày đặc của F-22 tổng hành doanh du kích Đông Nam Á của Quốc Tế Tình Báo Sở nữaq;
Con đường mòn mỗi lúc một thêm gồ ghề và thu hẹp lại. Đột nhiên những giọt mưa lớn thi nhau rơi xuống. Gã tài xế văng ra một tiếng chửi tục tằn.
Đoàng ! Đoàng !
Hai phát súng nối tiếp nhau vang dội.
Tài xế thắng lại.
…………..
Cách thị trấn Nambum-Ga một quãng ngắn có một ngôi chùa cổ. Tính trên bản đồ thi ngôi chùa cổ này chỉ cách thị trấn 5 cây số. Nhưng người đi bộ, men theo lối gỗ kéo, phải mất trên dưới 3 giờ đồng hồ.
Đường xe hơi chỉ ra khỏi thị trấn một quãng rồi tắc nghẽn, phải xuống xe qua đò máy.
Dân chúng đồn rằng ngôi chùa cổ rất linh thiêng, song ít người dám tới. Chắc vì đường xá không thuận tiện, nhưng cũng vì sợ hãi. Một số người sùng bái chẳng quản khó khăn, băng rừng tới cúng vái, đã ra đi không bao giờ về nữa . Mấy ngày sau, một cái bè chuối trôi lững lờ trên sông, chở theo xác chết bị mổ ruột, thân thể vằm nát. Từ đó, không ai dám héo lánh tới ngôi chùa bí mật ấy nữa.
Người Diến thượng du chất phác tin rằng chung quanh chùa có ma, một giống ma cà rồng khổng lồ, nhá xương người rôm rốp như phụ nữ Diến nhai trầu vậy. Ma cà rồng có ở miền Bắc khiến già trẻ, trai gái đều sợ. Họ lại sợ hơn vì không biết ai thuật lại là ma cà rồng gần ngôi chùa cổ đã thành tinh từ nhiều thế kỷ, bị chọc giận có thể ăn thịt cả thị trấn Nambum-Ga. Trên thực tế, chủ nhân của ngôi chùa không phải là ma cà rồng, mà là loài người, nhưng là loài người dữ tợn hơn ma cà rồng gấp chục lần.
Trong thế chiến thứ hai, một đảng cướp từ Hoa Nam tràn xuống, lợi dụng sự nhẹ dạ của dân địa phương, đã chiếm cứ ngôi chùa. Binh đội Nhật đánh đuổi bọn cướp chạy thất điên bát đảo sang Lào. Sau đó, đến lượt binh đội Thiên Hoàng rút lui trước sự phản công của đồng minh. Đại chiến chấm dứt. Nội chiến vẫn tiếp diễn ở Trung Hoa. Tàn quân Quốc Dân Đảng do tướng Li Mi chỉ huy kéo vào Diến Điện. Ngôi chùa lạ lùng được dùng làm tổng hành doanh Quốc Dân Đảng. Nhưng rồi một phần Quốc Dân Quân được hồi hương về Đài Loan, phần còn lại phân tán thành nhiều toán nhỏ vào rừng, qua Lào hoặc Ấn Độ chờ cơ hội phục hận. Ngôi chùa “ma cà rồng” lại nằm phơi sương nắng, rêu xanh phủ kín.
Chiến tranh Đông Dương mỗi ngày một leo thang. Hồng quân Trung Hoa lũ lượt kéo xuống phía Nam. Ngôi chùa “ma cà rồng” một lần nữa được chiếu cố đặc biệt. Thượng tá U Ban của Quốc Tế Tình Báo Sở, tư lệnh F-22 tới chùa đồn trú một ngày mưa tầm tã, nước sông Irrawaddy dâng khỏi bờ làm miền Bắc ngập lụt.
Chùa được xây bằng đá ong, thứ đá ong từng phiến lớn, hàng chục người lực lưỡng cũng khiêng không nổi. Thứ đá ong đặc biệt này giống với thứ được dùng để xây Vạn lý Trường thành bên Tàu. Thật là kỳ diệu vì di chuyển các tảng đá ong trên đất bằng phẳng đã khó, huống hồ ngôi chùa lại được xây cất cheo leo trên sườn đồi gần 45 độ nghiêng. Trừ phi có xe cần trục khổng lồ mới nâng được đá lên đồi. Hồi ấy, xe cần trục khổng lồ chưa được kỹ nghệ Tây phương sản xuất. Dầu có xe cần trục này nữa thì chạy bằng đường nào ?
Đặc điểm thứ hai – có tính cách quân sự - của ngôi chùa “ma cà rồng” là tuy ở trên sườn đồi, nó lại hoàn toàn kín đáo. Phi cơ bay phía trên dầu được trang bị máy ảnh bén nhạy tối tân đến đâu cũng không chụp được gì ngoại trừ hình ảnh một vùng cây xanh um, kết chặt vào nhau như tấm thảm bát ngát và dày cộm.
Ngay cả máy ảnh quang tuyến hoặc hồng ngoại tuyến, có thể chụp xuyên qua bê tông, cũng vô ích vì ngôi chùa được xây cất trên một vùng đất đặc biệt, có những tia sáng vô hình được phát ra làm phim nhựa bị hư hỏng.
F-22 đặt hành doanh trên sườn đồi gần Nambum-Ga không phải do ngẫu nhiên, mà vì Quốc Tế Tình Báo Sở đã biết rõ đặc tính của lớp đất bên dưới.
Chùa rộng hơn một mẫu tây, tứ phía có tường bao bọc. Vào chùa chỉ một lối độc nhất. Từ dưới lên trên đếm đúng 500 bậc cấp. Trải qua nhiều cuộc phế hưng, kiến trúc chính của chùa đã đổ nát hoặc rêu phong kín mít, các bệ thờ trống trơn khiến người lạ không thể biết trước chùa thờ Phật hay thờ thần linh.
Tuy nhiên, sự điêu tàn của ngôi chùa chỉ ở bề ngoài. Khách đi qua phương trượng rộng mênh mông giữa đống đá ong vụn hỗn độn, đám rễ si chằng chịt và hàng trăm thứ nấm rực rỡ đến một cái bệ thờ bẩn thỉu chắc không ngăn được ngậm ngùi. Nhưng nếu khách là nhân viên Tình Báo Sở, dưới quyền thượng tá U Ban thì phải cảm thấy hân hoan vì cái bệ thờ bẩn thỉu này đã che giấu bên dưới một nhà hầm bát ngát.
Đụng vào nút mở bí mật, bệ thờ sẽ tách ra để lộ một ô cửa vuông vức có bậc thang xuống. Nhà hầm gồm nhiều phòng chạy dài theo hình chữ nhất từ sườn đồi xuống chân đồi. Phòng cuối cùng ăn thông với một giòng suối nước nóng, khói bốc nghi ngút quanh năm. Gần giòng suối là một thạch động kiên cố.
Thượng tá U Ban đóng trụ sở bên trong thạch động.
Dưới ánh đèn măng sông sáng xanh, U Ban đang ngồi trước bàn làm việc, vẻ mặt đăm chiêu. Bàn làm việc là một phiến đá ong, bên trên để lớp gỗ tếch nổi vân bóng loáng. Ghế ngồi cũng bằng gỗ tếch, gọt đẽo bằng cưa và đục song mỹ thuật.
Đĩa đựng tàn thuốc đặt trước mặt U Ban là phân nửa trái bầu rừng, phơi khô, khoét rỗng ruột. Ly nước uống kế bên cũng bằng trái bầu hoặc bằng thân tre. Dáng điệu trầm ngâm, U Ban gác hai chân lên bàn, ngửa cổ ra sau, thở hơi khói thơm tho của điếu xì gà bản xứ tẩm nhựa a phiến. Đoạn hắn tu một ngụm rượu nếp trồng trong rừng màu hung hung và ngâm mật rắn.
U Ban ngồi bất động như vậy đã lâu lắm.
Một thuộc viên mặc y phục đen, đeo tiểu liên AK-47 từ bên ngoài bước vào từ nãy song không dám hó hé khi thấy thượng cấp đắm mình trong cơn suy nghĩ.
Ngẩng đầu lên, U Ban hất hàm hỏi :
-Xong chưa ?
Tên thuộc viên đáp :
-Thưa, họ đã bắt đầu lên đường. Trạm kiểm soát vừa gọi điện thoại về xong.
U Ban ném điếu xì gà vào trái bầu khô :
-Giải Seng Ho lên đây. À, lấy thêm cho vò rượu nữa. Còn thịt cá sấu không ?
Thế gian 3 sự khó chừa, U Ban đã có «rượu nồng dê béo » lại có cả «gái vừa đang tơ » nữa. Nếu là ban đêm hoặc buổi trưa nhàn hạ, hắn đã dặn thuộc viên mang « vũ công » đến căn phòng riêng, phía sau bàn giấy. Vũ công là những cô gái trẻ măng, khá đẹp, theo chân F-22 từ Vân Nam tới hoặc tuyển mộ tại địa phương.
Có tiếng động ngoài cửa.
Seng Ho tiến vào giữa hai du kích quân. Cuộc sống giam hãm tuy ngắn ngủi đã biến chàng thanh niên hào hoa thành bộ xương người biết cử động. Thật vậy, Seng đã mất gần hai chục ký thịt trong một thời gian kỷ lục. Vì thiếu chất bổ cần thiết, da mặt hắn xanh mét. Tuy vịn vai tên lính, hắn vẫn loạng choạng. Nhưng cặp mắt của hắn vẫn còn nguyên những tia sáng tinh anh thường lệ. Hắn đứng lặng một phút, nhìn U Ban rồi nói :
-Anh lừa tôi.
U Ban rót rượu vào hai ly tre, giọng ôn tồn :
-Tôi lừa anh ra sao ?
-Anh hứa trả tự đối vớicho tôi sau khi tôi cung cấp cho anh danh sách các điệp viên MI-6 ở miền Bắc, và tôi đã làm theo ý anh. Nhưng cho đến giờ này, tôi vẫn bị nhốt trong ngục tối.
-Tôi mời anh tới để trả tự do.
-Thật không ?
-Thượng tá U Ban, tư lệnh F-22 không bao giờ nói hai lời. Tuy nhiên tôi cần cho anh biết sự thật… Anh gầy quá, ốm yếu quá… Anh cần tĩnh dưỡng một vài tuần lễ trước khi trở về. Với sức lực hiện giờ, anh không mảy may hy vọng đối phó với tên Z.28.
-Hắn lên tới Nambum-Ga chưa ?
-Rồi. Nội ngày hôm nay Z.28 sẽ có mặt tại đây. Tuân lệnh tôi, xã trưởng Tin Aung đã thộp cổ hắn ngay sau khi hắn đặt chân lên bến.
-Đa tạ anh ngàn lần. Tôi quyết băm vằm hắn ra làm trăm mảnh. Nếu anh cho phép, tôi xin tình nguyện ở lại làm tuộc viên. Tôi sẽ không trở về Ngưỡng Quang nữa.
U Ban đưa ly rượu cho Seng Ho.
-Uống đi, rượu cẩm này khá lắm. Thuộc viên của tôi tự nấu lấy rượu, rồi ngâm thuốc bổ. Món đuôi cá sấu cũng ngon kinh khủng, mời anh dùng với tôi cho vui.
Seng Ho ngồi xuống một bên. Niềm tức giận của những ngày bị giam như con thú trong cũi tre đã tan biến, nhường chỗ cho một cảm giác nhẹ nhõm, lâng lâng. Cảm giác của hai chục năm về trước, hắn và U Ban là hai sĩ quan chưa vợ, tràn trề nhựa sống, phục vụ trong bộ tham mưu đoàn quân Anh viễn chinh của tướng Wingate ở Diến Điện. Hồi ấy, họ uống rrượu với nhau trong một thạch động. Rồi sau đó, một trong hai người biệt tích để trở thành thượng tá U Ban hét ra lửa của Quốc Tế Tình Báo Sở Trung Hoa lục địa.
Men rượu nồng cháy làm ruột gan Seng Ho cồn cào. Có lẽ vì bụng hắn đói, nhưng cũng vì hắn không quen uống rượu, nhất là thứ rượu đặc biệt của U Ban, có thể vật ngã con voi khổng lồ. Nếu biết được dã tâm của anh vợ, hắn đã từ chối vì U Ban có pha vào ly rượu một hóa chất có tác dụng mãnh liệt hơn Scopolamine, thường được giới điệp báo dùng để bới móc bí mật giấu kín trong tiềm thức đối phương.
Seng ngồi ngây một hồi, cặp mắt lờ đờ. Giọng nói trầm trầm của thượng tá U Ban xoắn sâu vào tai hắn :
-Anh bắt đầu say chưa ?
Seng Ho đáp như máy :
-Say rồi.
-Anh biết người ngồi trước mặt anh là ai không ?
-Biết.
-Là ai ?
-Là Paul, bạn thân của tôi ngày xưa trong quân đội.
-Anh đối với tôi ra sao ?
-Bao giờ tôi cũng mến anh. Phương chi tôi lại là em rể anh.
-Tại sao anh không nói hết sự thật ?
-Sự thật nào ? Anh cần gì, tôi xin nói hết. Tôi không thể thiếu thành thật với anh.
-Anh vẫn làm việc cho MI-6 chứ ?
-Vẫn.
-Seng Ho, anh vẫn chưa hoàn toàn thành thật với tôi.
-Trời ơi, tôi xin thề không giấu diếm anh gì hết.
-Vậy MI-6 bố trí cho anh kết hôn với Vêra phải không ?
-Phải.
-Yêu cầu anh nói rõ thêm.
-Vâng, tôi xin đưa thêm chi tiết. Trước khi cưới nàng, tôi vẫn là nhân viên tình báo MI-6 hoạt động ở Tân gia ba và Mã Lai dưới danh nghĩa đại diện một công ty mỏ dầu Hòa Lan. Một buổi tối, tôi được thượng cấp mời tới. Tôi thuộc vào thành phần nhân viên nằm lì, thỉnh thoảng cung cấp một số tin tức đặc biệt, nên khi được tin, tôi đinh ninh là tới để nhận công tác mới ngờ đâu thượng cấp mời tôi đi ăn và đi … chơi.
-Chơi gái ?
-Vâng. Thượng cấp trực tiếp của tôi là một người Anh. Y rủ tôi xuống xóm yêu hoa và đưa tôi vào một hộp đêm trung lưu trình diễn thoát y vũ.
-Mà Vêra là vũ nữ ?
-Vâng. Hồi ấy nàng mang tên khác, không phải Vêra như sau này làm chủ gia tài kếch sù 250 triệu đô la của ông vua mỏ kẽm Mã Lai. Vêra múa khỏa thân mỗi đêm 6 lần song chỉ kiếm đủ sống vì tuy có nhan sắc nàng lại kém cỏi về nghệ thuật múa nhảy nên màn trình diễn của nàng thiếu hấp dẫn. Tính tình của nàng lại thất thường, gần như bốc đồng, khi vui khi buồn không ai có thể đoán trước được. Khi vui, nàng mặc cho khán giả đùa nghịch, nhưng khi buồn, nàng có thể trở nên dữ tợn hoặc thô tục nhất đời.
-Hồi ấy, Vêra còn nghèo lắm, phải không ?
-Phải, con nhà lính, tính nhà quan, nàng kiếm tiền chẳng bao nhiêu mà tiêu xài lại như đế vương. Cho nên nàng rất túng thiếu. Nàng lại mắc bệnh. Như anh đã biết, bệnh của nàng là di sản của gia đình : bệnh suyễn. Mỗi đêm trời đổi gió, cơn suyễn kéo lên, nàng cảm thấy chán đời hơn bao giờ hết. Tôi lợi dụng cơ hội này để chinh phục tình yêu của nàng… Tôi đến thăm nàng, ngồi chờ cho đến khi nàng yên giấc ngủ mới trở về nhà. Tôi lại tìm một y sĩ Mã Lai nổi tiếng điều trị cho nàng nữa. Và sau đó một thời gian, nàng khỏi bệnh.
-Anh yêu Vêra theo lệnh thượng cấp ?
-Thoạt đầu là vậy. Nhưng dần dà tôi cảm thấy nàng là một phần của đời tôi. Tôi đã yêu nàng thật sự. Rồi tôi đánh tiếng hỏi nàng làm vợ. Chúng tôi sửa soạn làm lễ thành hôn thì có tin nàng thừa hưởng gia tài kếch sù 250 triệu đô la của ông vua mỏ kẽm, cha nàng.
-Anh lầm rồi. Cha của Vêra đã từ trần hồi nàng lên 5 tuổi. Nhà còn hai anh em. Anh thì tòng quân, phục vụ trong lữ đoàn của tướng Wingate trên miền thượng du Diến Điện, còn em gái thì trôi giạt trên bến tàu Tân gia ba với nghề ca kỹ thảm thương.
-Vâng, tôi cũng định nói như vậy. Ông vua mỏ kẽm Mã Lai chỉ là cha nuôi của nàng. Ông có một người con trai duy nhất tử nạn chiến tranh. Vợ ông thiệt mạng trong một tai nạn máy bay trên không phận Thái Bình Dương. Ông nhận Vêra làm dưỡng nữ trong một cơ hội lạ lùng : ông có thói quen cải trang làm người nghèo lang thang trên đường phố. Chẳng may đêm ấy, bọn cướp phăng ra tung tích ông và chặn bắt ông trong một hẻm tối. Ông thoát hiểm nhờ Vêra tình cờ đi qua. Nghe tiếng ông kêu cứu, nàng dừng xe lại, mời ông lên. Bọn cướp bắn theo, Vêra bị trúng đạn vào cánh tay song vẫn can đảm lái xe đưa ông vua mỏ kẽm về nhà nàng. Ông vua mỏ kẽm thú nhận ông là nhà tỷ phú và muốn đền ơn thì nàng nói rằng tuy cần tiền song lại khinh tiền và từ chối không nhận. Nàng cũng không hỏi danh tính và nghề nghiệp của ông vua mỏ kẽm. Thái đô hào hoa của Vêra làm nhà tỷ phú xúc động sâu xa. Ông bèn viết chúc thư bí mật để lại toàn bộ gia sản cho nàng.
-MI-6 biết ông vua mỏ kẽm để của lại cho nàng nên ra lệnh cho anh lấy nàng làm vợ phải không ?
-Phải.
-Anh là thằng tồi.
-Giá nàng không có 250 triệu đô la, tôi vẫn yêu nàng và yêu nàng tha thiết. Đặt vào địa vị tôi, anh sẽ thấy tôi là người chồng đau khổ nhất thế giới. Đến khi có tiền, nàng đổi hẳn tính tình. Nàng yêu đương bừa bãi, gặp ai cũng hò hẹn. Nàng lạnh nhạt dần dần với tôi. Tôi cố gắng chinh phục tình yêu của nàng nhưng vô hiệu. Nên khi nàng yêu cầu tôi lên miền Bắc kiếm mộ anh, tôi nhận lời liền, bất chấp nguy hiểm, để nàng vui lòng.
-Chứ không phải MI-6 ra lệnh cho anh ư ?
-Sau khi Vêra yêu cầu, tôi mới liên lạc với MI-6 để xin chỉ thị.
-Seng Ho, anh vẫn chưa hoàn toàn thành thật.
-Trời ơi, anh còn muốn tôi thành thật đến thế nào nữa ? Tôi đã cung cấp cho anh bản danh sách nhân viên của MI-6 hoạt động tại miền Bắc. Tôi đã cung khai tất cả bí mật. Nhờ tôi, anh có thể đập nát tổ chức tình báo Anh Mỹ tại miền Bắc Diến Điện.
-Cám ơn anh. Anh đã tỏ ra thành thật, nhưng vẫn chưa hoàn toàn thành thật. Tôi hy vọng là anh quên, chứ không có ý định giấu diếm. MI-6 đã dặn anh điều tra súng hơi BZ bao giờ chưa ?
Đang lờ đờ như mất hồn, Seng Ho bỗng khựng người. Hắn choàng dậy, nói luôn một hơi :
-Có. Không hiểu sao tôi chẳng còn nhớ gì nữa. Trước ngày tôi lên đường, MI-6 có huấn luyện tôi về tác dụng của hơi độc BZ. Huấn luyện viên cho biết là một số cán binh F-22 của Quốc Tế Tình Báo Sở được võ trang một loại súng bắn đạn hơi độc BZ. Bởi vậy, bằng bất cứ cách nào tôi phải lọt vào tổng hành doanh của F-22.
-Anh biết tại sao F-22 lập tổng hành doanh trong khu vực ngôi chùa này không?
- Biết. Thứ nhất vì địa điểm được bảo mật tuyệt đối, phi cơ không thể chụp hình, đi đường bộ cũng như đường thủy rất khó khăn. Thứ hai vì trong khu rừng này có một loại cây leo đặc biệt, chất nhựa của nó có thể dùng chế hơi độc BZ. Theo lời huấn luyện viên MI-6, nếu Tây phương không tiêu diệt được căn cứ này của Tình Báo Sở thì chỉ một vài năm nữa sẽ phải đối phó với một hiểm họa nghiêm trọng không kém hiểm họa nguyên tử.
-Ngoài việc giết thượng tá U Ban, anh còn nhiệm vụ phụ thuộc nào nữa ?
-Đặt mìn cho tổng hành doanh F-22 nổ tung. Nếu không, tôi phải liên lạc vô tuyến với nhân viên MI-6 để báo cáo về trung ương, xin một toán phá hoại đặc biệt tới tận nơi bằng phi cơ.
-Liên lạc vô tuyến ? Anh liên lạc với nhân viên MI-6 bằng phương pháp nào ?
-Bằng điện đài.
-Hừ, anh phải hiểu rằng khí trời trong vùng này có tác dụng hút phá mọi làn sóng vô tuyến điện… Vả lại, nhân viên của tôi lục soát hành trang của anh, và không thấy gì hết. Anh cất điện đài ở đâu ? Chẳng lẽ anh lại giấu trong người ?
Seng Ho gật đầu :
-Vâng, tôi giấu trong người. Đúng ra trong hàm răng. Hẳn anh còn nhớ là hàm răng trên của tôi bị gãy nát từ 20 năm trước trong một trận giao tranh với quân Nhật trong rừng. Tôi cắn vỡ vỏ lát tích của răng cấm là điện đài bắt đầu hoạt động.
Mặt thượng tá U Ban hơi biến sắc :
-Anh đã cắn vỡ nó chưa ?
-Rồi. Ngay sau khi tôi về được giải về đây.
-Nó chỉ được phát âm hay được chuyển âm ?
-Chuyển âm. Theo chỗ tôi biết, cuộc nói chuyện giữa anh và tôi đang được chuyển đi dù vùng đất này có đặc tính phá tuyến. Tầm hoạt động của nó lại bị hạn chế nên trong đường kính một cây số phải có một đài tiếp vận.
-Ai phụ trách đài tiếp vận ?
-Tôi không biết. Theo chỉ thị, tôi có nhiệm vụ cho máy chạy sau khi lọt vào tổng hành doanh của F-22. Có lẽ nhân viên MI-6 phụ trách tiếp vận hiện sống lén lút trong rừng, sát thạch động.
-Không ai có thể bén mảng tới tổng hành doanh trong vòng 10 cây số.
-Biết đâu lại là thuộv viên của anh.
-Việc này không thể xảy ra. Thuộc viên của tôi đã được tuyển chọn kỹ càng. Vả lại, nếu có đài tiếp vận bí mật trong tổng hành doanh, tôi phải biết vì tôi có một hệ thống điện tử hữu hiệu, chuyên khám phá những làn sóng lạ. Như vậy nghĩa là…
U Ban ngừng bặt.
Bỗng hắn nhìn giữa mắt Seng Ho :
-Điện đài trong miệng anh hoạt động được bao lâu ?
Seng Ho đáp, giọng đều đều :
-Một tuần.
U Ban lặng người một lúc rồi lẩm bẩm :
-Đích là hắn… Té ra mình bị lừa…
Mắt Seng Ho chớp liên hồi. Thuốc mê đã tan gần hết. Hắn vùng dậy, vẻ ngơ ngác hiện rõ trên mặt :
-U Ban… anh Paul ? Đây là đâu ?
Dường như chuông báo động vừa reo vang trong tiềm thức hắn. Trong chớp mắt, hắn mang máng nhớ lại những bí mật xa xăm mà hắn tiết lộ một cách vô tình và dại dột trong cơn mê hóa học. Hắn vung tay, gạt đổ trái bầu khô đựng tàn thuốc và hai cái ly tre đầy ắp rượu xuống đất, giọng giận dữ :
-Trời ơi, anh vừa cho tôi uống thuốc mê.
U Ban nhún vai :
-Dĩ nhiên vì tôi cần biết những chi tiết mà anh cố tình giấu diếm.
Sức mạnh bùng lên trong huyết quản và thớ thịt, Seng Ho vụt nắm lấy tay áo U Ban :
-Bây giờ tôi đã phăng ra sự thật. Anh không hề có ý định trọng dụng tôi. Chẳng qua anh đóng kịch. Giờ đây, tôi quyết định sống mái với anh.
U Ban lùi một bước, tay chống nạnh, thái độ khinh bỉ :
-Anh muốn đấu quyền với tôi ư ? Bình thường anh không chịu nổi một nhát atémi của tôi, huống hồ bây giờ anh chỉ là đống giẻ rách…
U Ban không ngờ tàn lực của Seng Ho lại có thể hung hăng đến mực độ ấy. Seng Ho lao đầu vào ngực U Ban. Ngón đòn liều lĩnh được phóng ra quá nhanh nên viên thượng tá Tình Báo Sở tránh không kịp. Nếu Seng Ho không bị giam giữ, bỏ đói, bỏ khát trong cũi tre thì thế thiết đầu thần tốc ấy đã có thể làm đối phương bị té ngửa, thương tích trầm trọng. Tuy vậy U Ban cũng xửng vửng trong giây phút.
Mặt đỏ gay vì tức giận (và phần nào cũng vì xấu hổ) U Ban vung mạnh cánh tay rắn chắc như sắt nguội để chặn miếng đòn thứ nhì của Seng Ho vừa vút tới. Seng kêu ái một tiếng đau đớn. Xương cổ tay hắn bị gãy lìa. Hắn không bao giờ ngờ được U Ban đã trở thành một võ sĩ cừ khôi, giết người dễ dàng như lấy đồ trong túi áo.
Sự đau đớn không làm Seng nhụt nhuệ khí, trái lại hắn liều lĩnh hơn lên. Tay phải bị gãy, hắn dùng tay trái để tấn công. Hắn thu toàn bộ võ công vào sống bàn tay, nhắm giữa hoành cách mô của địch đánh ra thế quyền chí tử.
Song le tài nghệ của hắn chỉ là hạt bụi vô nghĩa đối với thượng tá U Ban, con người giang hồ của Tình Báo Sở, đã tốt nghiệp nhiều lớp huấn luyện quyền thuật cao cấp ở Bắc Kinh và Mạc tư khoa. Vì vậy, Seng Ho đã bị gạt bắn vào vách thạch động. Đầu hắn giáng vào phiến đá lởm chởm, máu tuôn ra xối xả. Seng Ho nằm sóng soài trên đất, và bắt đầu mê man.
U Ban đứng nhìn nạn nhân một giây rồi bĩu môi bước nhanh ra ngoài.
Ánh nắng xế trưa gay gắt bị vòm cây cao xanh um cản lại nên chỉ có một lằn sáng xanh man mác tỏa xuống lối đi ngập lá, chằng chịt rễ cây mốc meo, dày đặc rêu xanh ẩm ướt, lốm đốm những chấm đỏ của hoa mẫu đơn vừa nở. Phong cảnh rừng già thật nên thơ, nhưng thượng tá U Ban đã mất hẳn tâm hồn thi sĩ của 20 năm về trước. Hắn không có thời giờ dừng lại, nhìn lên cành cây có con chim mỏ đỏ, đuôi vàng, mình gầy nhom, cẳng cao lêu nghêu, đứng vắt vẻo suốt ngày cất lên những nốt nhạc êm đềm, êm đềm như cơn « Mơ mộng » của đaị nhạc sĩ Chopin.
Thuở xưa… thuở còn là sĩ quan tham mưu tình báo của đoàn quân viễn chinh Chindits, U Ban là một cây Hạ uy cầm chứa chan tình cảm. Mỗi khi ngón tay đeo vuốt sắt của hắn thoăn thoắt trên phím đàn là người nghe có thể rớt nước mắt.
Lâu lắm, U Ban chưa xử dụng lại Hạ uy cầm vi hắn còn bận chém giết.
Trong phút này, tư tưởng chém giết đang sục sôi trong lòng hắn.
Xa xa, tiếng súng nổ ròn.
…………….
Đoàng, đoàng…
Đó là hai phát súng trường từ bụi rậm bên trái bắn ra. Tài xế thiếu bình tĩnh, dồn hết sức lực vào chân thắng nên chiếc díp mảnh mai lết một đoạn ngắn trên con đường thoai thoải vừa bị trận mưa vừa trút xuống làm trơn như máng xối. Sau cùng, xe hơi chịu dừng lại trước một gốc đa hai người ôm không xuể, cành lá xòe ra như cái tán khổng lồ.
Chiếc díp chở toán vệ sĩ võ trang vọt lên trước, tên sĩ quan chỉ huy nhảy xuống hét lớn :
-Tôi đây, đừng bắn nữa.
Từ bụi rậm um tùm ló ra một cái đầu đen sì. Rồi hai cái, ba cái... hai bên đường, phia trước, đầu người hiện ra lố nhố.
Một người mặc đồ trận đen tiến lên ra lệnh :
-Yêu cầu mọi người xuống xe.
Tin Aung đã xuống xe trước khi khẩu lệnh được ban ra bằng giọng gay gắt. Cử chỉ bình tĩnh, hắn giơ tay cho Vêra nắm và đỡ cho nàng tuột xuống, còn tay kia hắn xách cái va li nhỏ bằng da den của nàng. Văn Bình hỏi hắn :
-Lính của U Ban phải không ?
Tin Aung gật đầu :
-Phải.
-Tại sao họ không cho xe hơi chạy nữa ?
-Tôi không rõ. Có lẽ họ thay đổi lộ trình, bắt chúng ta dùng đò máy.
Văn Bình giọng chua chát :
-Ông với U Ban là bạn thân kia mà… Tại sao U Ban lại đối xử như thế này ?
Tin Aung trả cái va li cho Vêra :
-Rồi ông sẽ hiểu.
Một giờ trước, tại Nambum-Ga, khi Văn Bình phẫn nộ về cái chết của Inka, Tin Aung cũng đã chậm rãi nói với chàng « Rồi ông sẽ hiểu » . Chàng đòi hắn giải thích thì hắn đánh trống lảng không đáp. Khi ấy, chàng không để ý, nhưng giờ đây chàng đã nhận thấy trong câu nói cộc lốc của viên xã trưởng dân tộc thiểu số một sự hàm súc bí mật. Chàng muốn hỏi hắn lần nữa thì toán người núp sau bụi rậm đã tiến tới, dàn thành hàng ngang, súng chĩa vào bọn cảnh bị của Tin Aung.
Tin Aung khoát tay :
-Chắc các anh không lạ gì tôi. Tôi là xã trưởng Tin Aung. Tôi có giấy thông hành đặc biệt do thượng tá cấp.
Tên lính mặc đồ trận đen, chỉ huy toán du kích nói :
-Vâng, tôi biết.
Tin Aung nhoẻn miệng cười thân thiện :
-Nghĩa là anh đã biết tôi áp giải phạm nhân vào tổng hành doanh nộp cho thượng tá …
-Biết.
-Vậy phiền anh ra lệnh cho binh sĩ…
-Không được. Thượng tá vừa đích thân gọi điện thoại cho tôi, ra lệnh chặn đoàn xe của ông lại.
-Để làm gì ?
-Ông không có quyền hỏi. Binh sĩ dưới quyền ông phải nộp võ khí cho chúng tôi mới được trở về thị trấn.
-Hành động này trái ngược với sự thỏa thuận giữa thượng tá và tôi. Chúng ta là đồng minh. Vì như vậy bắt buộc chúng tôi phải chiến đấu. Các anh tuy đông thật nhưng không võ trang hùng hậu bằng chúng tôi. Thử hỏi một tiểu đội súng trường làm sao ngăn chặn được 15 tay súng Tôm sơn và một khẩu đại liên…
-Hà hà… xã trưởng bắt đầu dạy quân sự cho tôi. Vâng, tôi xin cám ơn. Nếu xã trưởng còn cho rằng chúng tôi chỉ có súng trường cũ mèm thì hãy nhìn quanh một lần nữa…
Tên chỉ huy du kích đập hai bàn tay vào nhau và cất tiếng kêu. Tức thời từ phía sau bụi rậm bên tả, bên hữu, nhiều cái đầu khác mọc lên, rồi những khẩu tiểu liên AK-47 từ từ chĩa về phía Tin Aung.
Tên chỉ huy du kích nói :
-Chúng tôi đã bố trí đầy đủ. Lọt vào quãng đường hiểm trở này thì cả một tiểu đoàn súng ống tối tân và đạn dược ê hề cũng chết không còn một mạng, phương chi ông chỉ có 3 xe díp lèo tèo và một bọn cảnh bị run như cầy sấy. Thôi, ông đừng làm tôi mất thời giờ thêm nữa. Ông bảo họ hạ súng xuống.
Toán vệ sĩ của Tin Aung lần lượt ném súng xuống đất. Mưa vẫn tuôn xối xả.
Tên chỉ huy du kích hất hàm :
-Tất cả lên xe.
Như mèo cụt đuôi, bọn lính cảnh bị lẳng lặng cúi đầu trèo lên xe díp. Tin Aung hỏi tên chỉ huy du kích :
-Còn tôi ?
Tên chỉ huy đáp :
-Ông phải theo chúng tôi vào tổng hành doanh.
Chờ cho xe díp chở bọn lính bị tước khí giới của Tin Aung chạy khuất dưới sự hộ tống của hai khẩu trung liên, tên chỉ huy quay lại phía sau, nói líu lo với một vệ sĩ. Văn Bình lắng nghe nhưng không hiểu được gì mặc dầu căn cứ vào giọng nói uốn lưỡi và một số danh từ quen thuộc, chàng biết đó là thổ âm Vân Nam.
Tên chỉ huy vừa dứt lời thì Tin Aung xấn tới phản đối :
-Anh không có quyền làm thế.
Tên chỉ huy nhăn mặt :
-Ông là kẻ nhiều lời nhất trong bọn. Vâng, tôi không có quyền thật, song viên đạn của tôi có quyền. Tôi chỉ tuân lệnh thượng cấp mà thôi. Nếu ông phản đối, xin để dành lát nữa phản đối trực tiếp với thượng tá.
Bọn lính mặc đồ đen từ trong bụi rậm ùa ra với những cuộn thừng ni lông to tướng. Trong chớp mắt, mọi người bị trói giật cánh khuỷu ra sau lưng, kể cả xã trưởng Tin Aung. Giây thừng xiết quá chặt neê Sophie kêu đau. Tên chỉ huy du kích cười gằn :
-Đó là chúng tôi còn nhân nhượng. Trói đúng tiêu chuẩn của quân đội giải phóng Trung quốc thì đau đớn gấp năm, gấp mười nữa.
Nghe hắn đe dọa, Sophie nìn lặng. Nàng không lạ gì lối trói vô nhân đạo của binh sĩ Hồng quân trên lục địa. Trói hai cánh tay rồi còn vòng sợi giây quanh cổ, lòng thòng như xích chó. Có nơi còn vòng cả xuống háng khiến nạn nhân bị kẹt cứng, chỉ có thể nhích lên từng bước một.
Văn Bình thản nhiên quật tay ra sau lưng. Hai tên lính lực lưỡng phụ trách riêng một mình chàng trong khi tên thứ ba chĩa lăm lăm khẩu tiểu liên Trung cộng. Có lẽ địch đã biết rõ căn cước điệp viên lưừg danh Z.28 nên hai tên du kích của F-22 trói chàng một cách chắc chắn, giây dù được chập lại, nút buộc đè chận lên nhau trong khi mọi người khác chỉ được trói một giây và buộc một nút.
Địch cho chàng là một kẻ lợi hại, song địch quên mất - hoặc vô tình không biết – chàng là một võ sĩ thượng thặng về Ninjutsu Nhật Bản và Thần Ảo Công của quyền Thiếu Lâm nghĩa là những môn võ có một không hai trên thế giới, chuyên về gỡ trói. Nếu muốn, chàng có thể vận công bẻ gãy xích sắt. Giây dù nổi tiếng dai bền, đôi khi dao bén mới cắt đứt song đối với chàng thì mọi thứ giây trói và mọi cách trói đều chỉ là trò chơi. Chàng chỉ cần một phút là tự giải thoát được.
Sau khi trói xong, bọn du kích chụp bao vải vào đầu Văn Bình rồi đẩy chàng ngã xuống võng ni lông do hai người khiêng. Chàng loáng thoáng nghe tên chỉ huy ra lệnh :
-Cởi ra. Ai bảo mày trói người đàn bà này ?
“Người đàn bà này“ chắc là Vêra. Giọng tên chỉ huy lại cất lên oang oang :
-Nhanh lên, kẻo lát nữa thượng tá lại cho mày ăn đạn.
Rồi tiếng đáp của tên du kích :
-Xin lỗi, em quên khuấy.
Tiếng gã chỉ huy :
-Lần sau mày đừng nên quên như vậy nữa.
Tiếng Vêra phản đối :
-Tại sao ai cũng bị trói trừ tôi ?
Tên chỉ huy đáp :
-Lệnh trên. Bọn tôi chỉ biết chỉ đâu đánh đấy. Bà là Vêra phải không ? Thượng tá đích thân dặn tôi phải biệt đãi bà.
Vêra càu nhàu vài ba tiếng nữa mà Văn Bình không nghe rõ rồi nín thinh. Văn Bình nằm ngửa trên võng, từ từ hít không khí vào lồng ngực để khỏi bị ngạt.
Bọn lính đang xuyên qua rừng nứa vì Văn Bình ngửi thoáng mùi thơm đặc biệt của phấn nứa và của những chồi măng mới nhú sau trận mưa vội vã. Hồi nhỏ, chàng thường vào rừng tre, rừng nứa, rừng giang, đốt lửa nấu cơm nếp cẩm. Nếp cẩm miền thượng phảng phất màu lam dịu dàng làm cậu bé Văn Bình say sưa. Màu lam là màu truyền thống của rừng núi : cơm màu lam, áo màu lam, khói trên nhà sàn màu lam, đôi mắt của những cô gái nhí nhảnh, thoăn thoắt cũng nhuộm màu lam, màu lam của sườn núi hoàng hôn, màu lam của cánh rừng bình minh quyện sương óng ánh.
Đoàn người đổ dốc thoai thoải rồi đi men suối. Văn Bình nghe tiếng nước chảy róc rách. Dầu không nghe tiếng nước chảy, chàng vẫn biết rõ lộ trình vì đường ven bờ suối ở bất cứ khu rừng nào trên trái đất cũng đều có mùi vị độc đáo, mùi hăng hắc của hoa cỏ trong rừng trên bờ : chàng nhận thấy hoa cỏ bên suối bao giờ cũng thơm đậm hơn hoa cỏ trong rừng vì được uống nhiều nước mát, khác nào cô gái dậy thì của xã hội « nhất dạ đế vương » Hồng Kông được nuôi bằng sâm nhung, thừa chất bổ đặc biệt nên da thịt nhất là khả năng lôi cuốn chăn gối thường có mùi hương đặc biệt. Những phiến đá bị nước mài nhẵn nhụi cũng tiết ra một mùi riêng. Rồi đến những bụi nấm, mùi những khóm rêu, mùi những tụm cỏ, mùi những đóa hoa chỉ mọc theo giòng suối, luôn luôn thủy chung như bóng với hình…
Lòng Văn Bình rộn lên một niềm vui vô tả. Chàng không nhớ là bị trói gô, đung đưa trên cáng ni lông, trong tay bọn đầu trâu mặt ngựa, coi tính mạng con người như con số không rỗng tuếch. Chàng không nhớ là lát nữa phải đối đầu với thượng tá U Ban, con hùm xám của Tình Báo Sở ở miền rừng núi hiểm trở Bắc Diến để rồi bị tiêm thuốc mê bỏ vào thùng gỗ chở về Bắc Kinh như món hàng, hoặc lãnh một băng đạn tiểu liên vào ngực, thi thể bị quăng xuống vực làm quà cho chim kên kên.
Núi rừng vốn là tình nhân của chàng nên chàng chỉ nghĩ đến núi rừng, nhớ đến núi rừng, mường tượng đến cuộc đi săn từ Việt Bắc vào Hòa Bình, Thanh Hóa, gót chân lãng tử dẫm lên các buôn Thái trắng, Mèo và Mường, trái tim rung động trước những tấm thân cân đối, kiều diễm phơi trắng dưới ánh trăng vàng huyền diệu…
Kỷ niệm hoan lạc của thời xa xưa bao trùm hết hiện tại phũ phàng. Văn Bình thiêm thiếp ngủ một cách bình thản và hồn nhiên như ngày nào nằm ngủ trên gối cô gái Mường mát rượi, vừa ở dưới suối lên, chưa kịp mặc quần áo…
Chàng ngủ say đến nỗi được khiêng từ võng xuống thuyền, rồi từ thuyền lên bộ mà không biết.
Chú thích:
(1) gọi là bọt biển Amboseli vì thứ đá này được tìm thấy (năm 1954) gần hồ Amboseli, dưới chân rặng núi hùng vĩ Kilimanjaro, Tanganyika. Bọt biển (meerschaum) là vật liệu quý giá nhất để làm nồi ống điếu. Ống điếu bọt biển là loại ống điếu đắt tiền nhất.
(2) cuốn « Hương viên » (vườn thơm) do tù trưởng Á rập tên là Abu Abd-Allah al-Nefzawi viết vào thế kỷ thứ 16, dịch sang tiếng Pháp vào thế kỷ 19. Sách này chứa đựng mọi bí mật về nghề nghiệp yêu đương trai gái.
(3) theo thi sĩ La mã cổ xưa Horace thì đuôi cá sấu có tác dụng khích động mãnh liệt. Món này hiện được ghi trong thực đơn « nhất dạ đế vương » ở Hồng Kông.

Tổng hợp deal ngon trên Internet

Chương trước Chương sau